Nhưng những động tĩnh đó của kẻ xâm lược không qua được tầm nhìn sáng suốt, nhạy bén của Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quân ta, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Bác Hồ, đã đồng loạt tiến công địch trên nhiều hướng, nhất là ở chiến trường Tây Bắc, làm cho kế hoạch Na-va ngay từ đầu đã bị đảo lộn. Quân Pháp buộc phải biến Điện Biên Phủ trở thành tâm điểm của kế hoạch Na-va. Tuy là sản phẩm bị động của một kế hoạch chiến lược bị động, nhưng với sự tập trung ưu tiên cao độ của Pháp và cả can thiệp Mỹ mà Điện Biên Phủ với 16.000 quân (chiếm 1/3 lực lượng cơ động của Pháp ở chiến trường Bắc Bộ), vũ khí, trang bị hiện đại, được bố trí ở 49 cứ điểm trong thế liên hoàn các "trung tâm đề kháng", thực sự trở thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của chúng ở Đông Dương lúc bấy giờ. Theo đánh giá của quan thầy Pháp, Mỹ thời bấy giờ thì Điện Biên Phủ là "pháo đài khổng lồ không thể công phá", là "cái bẫy hiểm độc" thực hiện tham vọng "nghiền nát" quân chủ lực Việt Minh.
Thế nhưng "vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn". Sau nhiều tháng nỗ lực chuẩn bị và 55 ngày đêm công phá với tinh thần kiên cường, dũng cảm, sáng tạo vô song của quân dân ta, ngày 7-5-1954, cờ chiến thắng của ta đã tung bay trên nóc hầm của tướng Đờ Ca-xtơ-ri. Toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - nơi thực dân Pháp dựa vào như "con đê xung yếu" cứu cánh cuối cùng của chúng ở Đông Dương đã bị sụp đổ.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định, đập tan ý chí xâm lược của thế lực thực dân hiếu chiến Pháp, tạo nên bước ngoặt căn bản của cuộc chiến tranh cả về quân sự và chính trị.
Chiến thắng Điện Biên Phủ của ta là đòn quyết định làm thay đổi căn bản hình thái quân sự trên chiến trường. Sau đại bại ở mặt trận Điện Biên Phủ, số lượng binh lính của thực dân Pháp trên chiến trường Đông Dương dù còn tới 3/4 số quân so với trước chiến cuộc Đông - Xuân (1953 - 1954) nhưng như rắn đã bị đập nát đầu, ngoại trừ một số phản ứng chiến thuật nhỏ lẻ, kẻ địch không dám nghĩ đến việc phản kích ta ở cấp chiến dịch, chiến lược. Điện Biên Phủ đã đẩy kế hoạch Na-va bị phá sản ngay tại điểm tập trung sự cố gắng cao nhất về mặt quân sự của Pháp và Mỹ. Trên chiến trường Đông Dương, sau thất bại ở Điện Biên Phủ, quân Pháp đã hoàn toàn ở thế bị động về chiến lược, chiến dịch, chỉ lo co cụm từ diện về điểm để bảo toàn lực lượng, tránh bị tiêu diệt hoàn toàn. Ngược lại, quân ta từ thế làm chủ chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, tiến hành tiến công cục bộ đã giành được quyền chủ động tiến công chiến lược trên chiến trường cả nước.
Chiến thắng lịch sử đó đã làm xoay chuyển cục diện cuộc kháng chiến, tạo ra bước ngoặt căn bản cả thế và lực của ta, là đòn sấm sét giáng lên đầu bọn thực dân hiếu chiến. Trên bàn đấu tranh ngoại giao ở Hội nghị Giơ-ne-vơ, không có con đường nào khác hơn, chính phủ Pháp buộc phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của cả ba nước Việt Nam, Lào - Cam-pu-chia và rút toàn bộ quân khỏi Đông Dương.
"Đại thắng oanh liệt Điện Biên Phủ đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược do thực dân Pháp gây ra và được đế quốc Mỹ giúp sức" (1), là bước nhảy vọt cách mạng của cuộc kháng chiến, một nửa đất nước được giải phóng, mở ra thời kỳ cách mạng mới, đưa miền bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh giải phóng miền nam, đưa giang sơn về một mối. Trên nền bước ngoặt vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra kỷ nguyên mới, thắng lợi của trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ đưa lại sự kết thúc hết sức vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược và đã mở đường đi tới thắng lợi thần kỳ "Điện Biên Phủ trên không", Chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại thắng mùa xuân năm 1975 và những thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đánh dấu mốc về sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, có sức cổ vũ lớn lao đối với phong trào giải phóng dân tộc, thức tỉnh khát vọng và niềm tin chiến thắng của hàng nghìn triệu người bị nô dịch trên thế giới đang đấu tranh vì mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội. Bài học kinh nghiệm phong phú của Chiến thắng Điện Biên Phủ và tác dụng mở đường của nó góp phần dẫn đến thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi, châu Mỹ la-tinh trong các thập kỷ sau đó đã khẳng định chân lý: Trong thời đại ngày nay, một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển, có đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, phát động được sức mạnh toàn dân tộc, được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ thì nhất định sẽ đánh bại được mọi kẻ thù xâm lược dù chúng có hung hãn đến đâu.
Đối với Quân đội ta, Chiến thắng Điện Biên Phủ đã "chứng tỏ quân ta tiến một bước vượt bậc về mặt chiến thuật, kỹ thuật, chỉ huy tác chiến và xây dựng quân đội vì trận Điện Biên Phủ là một trận công kiên lớn chưa từng có trong lịch sử kháng chiến từ trước tới nay đã kết thúc bằng sự toàn thắng của ta" (2).
Chiến thắng rực rỡ của quân và dân ta trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ cũng như của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 là thắng lợi của sức mạnh tổng hợp được tạo nên bởi nhiều nhân tố.
Thắng lợi đó trước hết bắt nguồn sâu sắc từ sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, vô cùng sáng suốt của Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong suốt cả cuộc kháng chiến, nhất là ở những thời điểm có tính bước ngoặt của cuộc chiến tranh, Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nắm vững lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phát động cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, xây dựng và sử dụng lực lượng vũ trang cách mạng làm nòng cốt; đánh địch bằng cả sức mạnh của thời đại ngày nay trong sự kết hợp chặt chẽ với kinh nghiệm truyền thống của dân tộc, của nhân loại; đánh địch bằng sức mình là chính đồng thời tranh thủ tối đa sự ủng hộ mọi mặt của các nước xã hội chủ nghĩa và bè bạn khắp năm châu; chủ động tạo nên sự chuyển hóa căn bản về thế và lực làm cho sức ta càng đánh càng mạnh và đẩy địch vào tình thế ngày càng khốn đốn, phải đầu hàng ta vô điều kiện.
Điểm then chốt trong kế hoạch chiến lược Na-va là tập trung xây dựng và sử dụng đội quân cơ động mạnh để giành thế chủ động về địa điểm, thời gian và cách đánh nhằm đè bẹp quân chủ lực của ta. Nhưng tầm nhìn chiến lược sâu xa của Đảng ta, đứng đầu là lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh, với chủ trương đánh đúng vào xương sống của chiến lược Na-va, chủ động phân tán, dàn mỏng đội quân cơ động chiến lược của địch trên cả chiến trường Đông Dương, đã buộc địch phải chấp nhận trận quyết chiến chiến lược với ta mà không gian, thời gian do ta làm chủ.
Tầm tư duy chiến lược đó của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh là chỗ dựa căn bản, là nền tảng phương pháp luận để Đảng ủy, Bộ Tư lệnh chiến dịch Điện Biên Phủ có sức sáng tạo phi thường. Điều có ý nghĩa quyết định một cách trực tiếp đến thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là đánh theo phương châm nào. Quyết định "đánh chắc, tiến chắc" thay vì "đánh nhanh, thắng nhanh" là kết quả của sự tư duy, tính toán sắc sảo, thận trọng, biện chứng trong đánh giá địch và ta trên chiến trường. Đánh theo phương châm đó là một nhân tố quyết định trực tiếp để quân ta trên mặt trận Điện Biên Phủ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà thay mặt Đảng, Chính phủ, nhân dân cả nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao phó: "Chiến dịch này là một chiến dịch lịch sử của quân đội ta, ta đánh thắng chiến dịch này có ý nghĩa quân sự và chính trị quan trọng" (3).
Tài thao lược của Đảng ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Bộ Tổng Tư lệnh, của Quân ủy Trung ương là nhân tố quyết định hàng đầu của chiến thắng.
Thắng lợi đó cũng chính là thắng lợi của chí khí anh hùng của một quân đội cách mạng có quyết tâm cao độ, mưu trí sáng tạo trong chiến đấu, có tinh thần chiến đấu anh dũng tuyệt vời, khắc phục khó khăn, đạp bằng mọi gian khổ, sẵn sàng hy sinh xương máu, vì nước, vì dân. Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân đội là một trong những nhân tố quyết định đã đưa chiến dịch Điện Biên Phủ, và nói chung cả chiến cuộc Đông Xuân trên khắp các mặt trận đến thắng lợi rực rỡ" (4).
Tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm giành độc lập tự do của nhân dân ta, sự thấm nhuần đường lối chính trị đúng đắn của Đảng, cùng mục đích chiến đấu "vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì ruộng đất cho dân cày, để mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội" (5) là động lực căn bản để nhân dân ta khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, hy sinh "tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng". Cùng với đồng bào cả nước lăn lộn trên mọi mặt trận "kháng chiến, kiến quốc", trong chiến dịch Điện Biên Phủ, 26 vạn dân công hỏa tuyến đã không quản gian khổ, hy sinh ngày đêm làm hàng trăm km đường giao thông, băng mình dưới mưa bom, đạn nổ, vượt qua hàng trăm dặm đường đầy đèo cao, hố sâu, bằng phương tiện thô sơ, sức lực cơ bắp đã vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm đảm bảo cho bộ đội chiến đấu trên chiến trường.
Tình đoàn kết trong sáng, thủy chung của nhân dân, quân đội ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia trên một chiến hào chống kẻ thù chung và sự ủng hộ chí tình, to lớn, có hiệu quả về vật chất và tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩa anh em cùng với sự cổ vũ, động viên của các nước bạn bè, các đảng cùng chí hướng, của nhân loại tiến bộ dành cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, đều là những nhân tố cực kỳ quan trọng góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ. Chúng ta mãi mãi ghi lòng tạc dạ về tình cảm sâu nặng và giúp đỡ to lớn đó.
-----------
(1) Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H, 1996, tr.194.
(2) "Chỉ thị của Ban Bí thư" (ngày 11-5-1954), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 15, Nxb CTQG, H2001, tr.100.
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H, 1996, tr.266.
(4) Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, Nxb QĐND, H, 1975, tr.153.
(5) Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ, Nxb QĐND, H, 1969, tr.144.