Tại sao Trung Quốc rất sợ đưa tranh chấp biển Đông ra tòa án quốc tế?

Tai sao Trung Quoc rat so dua tranh chap bien Dong ra toa an quoc te?

(GDVN) - "Tòa án Công lý Quốc tế của Liên Hiệp Quốc có 1/15 thẩm phán là người Trung Quốc; trong khi tại Tòa án Luật biển Quốc tế con số này là 1/21 thẩm phán, thì rõ rằng họ hoàn toàn có lợi thế. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn rất dè chừng trong vấn đề đưa tranh chấp Biển Đông lên các cơ quan tài phán quốc tế bởi họ đuối lý hơn ta nhiều lần. Do đó, hoàn toàn có thể tin tưởng rằng nước ta sẽ dành thắng lợi trên “chiến trường” này, PGS.TS Nguyễn Bá Diến khẳng định.

Trung Quốc đã chính thức “lật ngửa lá bài” tham vọng bành chướng (hay còn gọi là “Chiến lược diều hâu”) trong vấn đề Biển Đông. Đó là nhận định của PGS.TS Nguyễn Bá Diến, Trưởng Bộ môn Luật Quốc tế, trường Đại học Quốc gia Hà Nội trong cuộc trao đổi với phóng viên báo điện tử Giáo dục Việt Nam về tình hình tranh chấp giữa Việt Nam với Trung Quốc trên Biển Đông.

Ông Diến nhận định, thay vì “dè chừng” và thường dừng lại nghe ngóng phản ứng của Việt Nam, Mỹ, ASEAN sau mỗi động thái thì nay các hành động của Trung Quốc đã mang tính thách đố, mạnh bạo và dữ dằn hơn nhiều.

Bằng chứng gần đây nhất là hành động đưa ồ ạt đưa hàng chục nghìn tàu đánh cá ra biển, đồng thời ngay lập tức yêu cầu Mỹ “im mồm” khi nước này cho rằng Trung Quốc đã vi phạm Luật Biển Quốc tế, yêu cầu quay trở lại bàn đàm phám với ASEAN trên nguyên tắc DOC ( Quy tắc ứng xử trên Biển Đông).

Ông nhận định, là một quốc gia lớn, có chân trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, không phải ngẫu nhiên Trung Quốc không đưa tranh chấp Biển Đông lên Tòa án và các Trọng tài Quốc tế. Nguyên nhân sâu xa ở đây là do “người khổng lồ” không hề có bằng chứng thuyết phục chứng minh chủ quyền của mình trên Hoàng Sa và Trường Sa.

Thông thường, việc xử lý tranh chấp biển đảo của Tòa án Công lý Quốc tế sẽ căn cứ vào Điều 38 trong Quy chế Tòa án Quốc tế của Liên Hiệp Quốc. Tức là, khi tiến hành phân xử ranh giới quốc gia dựa trên các điều ước quốc tế liên quan (song phương, đa phương), tập quán quốc tế, các nguyên tắc cơ bản trong luật quốc tế, án lệ (các phán quyết của Tòa án Quốc tế, Tòa án Luật biển, hoặc nhận định của Cơ quan Tài phán quốc tế nổi tiếng, các quan điểm của của các chuyên gia, luật gia, luật sư nổi tiếng,…). Căn cứ vào đây, chắc chắn Trung Quốc sẽ “đuối lý” bởi vì:

Trung Quốc vi phạm nguyên tắc chiếm hữu thực tế. Theo nguyên tắc này, việc chiếm hữu phải bằng con đường hòa bình, bằng cơ quan có thẩm quyền của nhà nước, được công khai, minh bạch và không gián đoạn.

Trong khi đó, thực tế năm 1954, lợi dụng thời điểm tranh tối tranh sáng trong việc chuyển giao lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Pháp theo hiệp định Giơ- ne-vơ, Trung Quốc chiếm các đảo phía đông Hoàng Sa bằng vũ lực.

Năm 1974, thực hiện thỏa thuận ngầm với Mỹ dưới thời Tổng thống Richard Nixon, họ tiếp tục đổ bộ chiếm nốt các đảo phía tây Hoàng Sa. Ngoài ra còn nhiều lần Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm nhiều đảo khác. Chính điều này tiếp tục vi phạm nguyên tắc “Cấm dùng vũ lực và đe dọa dung vũ lực trong quan hệ quốc tế” của Liên hiệp quốc.

Trong khi đó, thực tế Trường Sa và Hoàng Sa đã được người Việt Nam phát hiện, khai thác từ thế kỷ 17. Thậm chí có bằng chứng chứng minh, triều đình đã thành lập một đội ngũ dân hàng năm ra đảo đánh bắt trong những tháng mùa khô,…

Ông Diến cho biết, đối với vấn đề tranh chấp biển đảo giữa các quốc gia, tính đến 2010 Tòa án Công lý quốc tế đã tiến hành xét xử 31 vụ. Và hầu hết các phán quyết của Tòa án Quốc tế thường dựa trên nguyên tắc lợi ích, căn cứ pháp lý, luận cứ pháp lý, nguyên tắc chiếm hữu thực sự,…

Trong xử lý tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc trên Biển Đông, theo ông Diến, cần bổ sung thêm những văn bản của nhà nước ban hành liên quan tới vấn đề biển đảo được đa phần quốc tế thừa nhận. Ví dụ như Luật Biên giới quốc gia năm Tuyên bố 12/5/1977 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; Tuyên bố ngày 12/11/1982 về đường cơ sở của Việt Nam; Luật Biên giới quốc gia năm 2003; Luật Các vùng biển Việt Nam được Quốc hội thông quan ngày 21/6/2012… Bởi vì tuy đây là những văn bản luật nhưng nó có tính quốc tế, lý lẽ được phần lớn cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Ngoài ra, những chiếu chỉ thành lập Hoàng Sa, Trường Sa của Triều Nguyễn; những văn bản sát nhập Hoàng Sa, Trường Sa; bản đồ nhà Thanh chứng minh Hải Nam là cực nam Trung Quốc; …cũng là những bằng chứng thuyết phục. Bởi chúng do những chuyên gia đầu ngành của các triều đại biên soạn và là sản phẩm nhà nước.

Việc nghiên cứu vấn đề Biển Đông đã diễn ra ở Trung Quốc từ rất lâu trước đây. Đồng thời hiện nay, tại Tòa án Công lý Quốc tế của Liên Hiệp Quốc có 1/15 thẩm phán là người Trung Quốc; trong khi tại Tòa án Luật biển Quốc tế con số này là 1/21 thẩm phán, thì rõ rằng họ hoàn toàn có lợi thế.

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn rất sợ đưa vấn đề đưa tranh chấp Biển Đông lên các cơ quan tài phán quốc tế bởi họ đuối lý hơn ta nhiều lần. Do đó, hoàn toàn có thể tin tưởng rằng nước ta sẽ dành thắng lợi trên “chiến trường” này, PGS.TS Nguyễn Bá Diến khẳng định lại.