Tái cơ cấu công nghiệp Việt Nam:Lời giải cho bài toán hội nhập?

Xem tin gốc 

Đại Đoàn Kết - 36 tháng trước 316 lượt xem

Trong những năm gần đây, giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp (CN) của Việt Nam liên tục giảm. Điều này thể hiện sự kém hiệu quả của ngành CN kéo dài đã nhiều năm. Đặc biệt, theo các chuyên gia kinh tế, việc hình thành tập đoàn kinh tế một cách “cơ học” và kiểu tổ chức sản xuất khép kín đã phá vỡ quy tắc chuyên môn hóa trong sản xuất CN, khiến cho giá trị gia tăng không cao. Vậy phải làm gì để CN Việt Nam tìm được chỗ đứng trên sân chơi toàn cầu đang là câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý.

“Tăng trưởng bần cùng hóa”

Trong gần 10 năm qua, sản xuất CN ở Việt Nam mới chỉ đạt được mục tiêu tăng nhanh giá trị sản xuất (GO) nhưng do chất lượng phát triển các khu vực vẫn thấp nên không tăng được giá trị gia tăng (VA). Hiện tượng này được các nhà kinh tế gọi là “Tăng trưởng bần cùng hóa”. Và điều này được hiểu theo nghĩa là càng tăng trưởng thì chất lượng tăng trưởng càng giảm.

Theo Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách CN (Bộ Công thương), thời gian qua, ngành CN Việt Nam vẫn phát triển theo bề rộng, theo hướng gia công, lắp ráp là chủ yếu. Tốc độ tăng của GO luôn cao hơn tốc độ tăng VA. Xét tỷ lệ VA/GO theo các ngành CN cho thấy, ngành CN khai thác có trị số cao nhất đạt 62,9%, tiếp đến là ngành điện, nước đạt 43,16%, sản xuất vật liệu xây dựng đạt 32,62%. Ngành CN điện tử và CNTT có trị số tỷ lệ thấp nhất với 13,81% do chủ yếu là lắp ráp giản đơn...

Bên cạnh đó, từ 1997 đến nay, tỷ trọng các ngành CN có tỷ lệ VA/GO cao ngày càng giảm. Cụ thể như: khai thác sau 12 năm giảm 6,93%; sản xuất điện, ga, nước giảm 0,63%; sản xuất vật liệu xây dựng giảm 2,75%. Trong khi đó, các ngành có tỷ lệ VA/GO thấp lại phát triển nhanh và chiếm tỷ trọng ngày càng cao. Ông Phan Đăng Tuất - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách CN cho rằng, nếu như tỷ trọng các ngành khoáng sản giảm đi là do yếu tố khách quan thì sức tăng VA chậm của các ngành chế biến lại có yếu tố chủ quan, bởi vậy đã không bù đắp được tốc độ giảm, mà nó còn khiến cho tỷ trọng VA/GO và tốc độ tăng VA trong sản xuất CN nói chung liên tục giảm.

Không những vậy, hiện sự chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế trong ngành CN đã diễn ra theo chiều hướng CN quốc doanh có xu hướng giảm, CN ngoài quốc doanh có xu hướng tăng nhanh.

Không nên phá vỡ nguyên tắc chuyên môn hóa

Ông Tuất cho biết thêm, nếu thời kỳ 2006-2007, VA trong CN tăng trưởng trung bình là 10,27%/năm, thì năm 2008, VA giảm tăng trưởng nhanh hơn GO khá nhiều, chỉ còn 8,14% do chi phí đầu vào tăng nhanh làm cho hiệu quả sản xuất CN giảm. 6 tháng đầu năm 2009, VA trong CN và xây dựng chỉ còn 3,48% so với cùng kỳ 2008.

Nguyên nhân của tình trạng này, theo các chuyên gia kinh tế một phần do việc xác định giá trị DN trong quá trình cổ phần hóa (CPH) thời kỳ 2005 thường thấp hơn thực tế. Điều này đã làm thất thoát đáng kể tài sản Nhà nước, và các DN sau CPH nhờ lợi thế đó nên có tốc độ tăng tưởng nhanh, tốc độ VA cao, thế nhưng thực chất chỉ là thừa hưởng giá trị từ quá khứ. Còn các DN ngoài quốc doanh mới thành lập nhiều (đặc biệt từ sau khi có Luật DN 2000) đã làm cho GO tăng mạnh nhưng hiệu quả không cao. Trong khi đó, mặc dù Việt Nam đã tích cực thúc đẩy quá trình CPH, số lượng DNNN đã giảm mạnh nhưng mức trang bị vốn, quy mô của khu vực này vẫn còn rất lớn. Một vấn đề khác theo các chuyên gia kinh tế, hiện nay việc hình thành các Tập đoàn kinh tế mạnh là đúng đắn, tuy nhiên do các thiết chế quản lý chưa đồng bộ nên việc “lắp ghép cơ học” các DN lại với nhau đã tạo ra quy mô hình thức lớn nhưng lại là nguyên nhân khiến cho khu vực này kém linh hoạt, kém hiệu quả hơn. Ông Tuất cho rằng, xu hướng tổ chức sản xuất khép kín sẽ nguy hiểm vì đây là loại hình tổ chức kém hiệu quả nhất.

Nhận diện xu hướng chuyển dịch CN Việt Nam

Nhận diện xu hướng chuyển dịch cơ cấu CN Việt Nam, các chuyên gia kinh tế đã đưa ra 5 nhận định. Đó là tác động từ sự chuyển dịch các ngành, nhóm ngành CN từ các quốc gia trong khu vực và quốc tế đến Việt Nam theo hiệu ứng “đàn sếu”. Nếu Việt Nam không có quyết sách, trải thảm đón đầu tư thì sẽ nhận được những dòng đầu tư không hiệu quả.

Xu hướng tiếp theo cũng là từ quá trình hội nhập, nền kinh tế cần có các tập đoàn mạnh làm đối tác trong các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Bởi vậy, việc ra đời và phát triển các tập đoàn kinh tế mạnh sẽ là một yêu cầu khách quan. Một xu hướng khác là sự xuất hiện các khu kinh tế, khu công nghệ cao sẽ là cửa ngõ, là trụ cột cho việc nắm bắt và chủ động hội nhập. Việc kêu gọi dòng chảy, đầu tư để thúc đẩy CNH, HĐH đặt ra một xu hướng rõ nét là nền kinh tế cần các “điểm mở” để mở cửa với thế giới bên ngoài. Các “điểm mở” này sẽ là động lực, là xúc tác để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.

Đưa CN Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu

Ông Phan Đăng Tuất cho rằng, CN hỗ trợ đòi hỏi tính chuyên môn hóa rất cao, đòi hỏi phải được kết nạp vào các chuỗi giá trị của các Hãng toàn cầu (MNC) vì các MNC đòi hỏi rất khắt khe đối với các nhà phụ trợ của họ. Đáng tiếc đến nay, số DN nội địa của Việt Nam được kết nạp vào các MNC chỉ đếm trên đầu ngón tay. Điều đáng quan tâm là việc gia nhập vào các MNC ngày càng trở nên khó khăn bởi yêu cầu cạnh tranh chất lượng rất khốc liệt, do vậy cơ hội cho DN Việt Nam ngày càng nhỏ. “Điều này đòi hỏi phải đặt ra cách nhận thức nghiêm túc và các giải pháp mạnh mẽ, nếu không thì sự tụt hậu xa hơn nữa trong CN của Việt Nam sẽ là hiện thực chứ không còn là nguy cơ”, ông Tuất cảnh báo.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, tái cơ cấu CN Việt Nam đang trở thành vấn đề có tính quốc sách trong thời kỳ thực hiện CNH, HĐH đất nước. Do vậy, Việt Nam cần tập trung vào 6 giải pháp để đưa nền CN Việt Nam phát triển và hội nhập. Theo đó, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ các chính sách thu hút đầu tư; tập trung quyết liệt việc phát triển hệ thống CN hỗ trợ (CNHT); phát triển nhân lực cho ngành CN mới; khuyến khích hình thành hệ thống vườn ươm doanh nghiệp; lựa chọn đối tác chiến lược cho ngành, cho DN, thúc đẩy DN tham gia và chuỗi giá trị MNC và tái cấu trúc mạnh mẽ khu vực DN Nhà nước.

Trong đó, chính sách thu hút đầu tư, lao động tiền lương... cần tập trung cho việc khuyến khích các ngành CN có giá trị gia tăng cao, ít sử dụng tài nguyên năng lượng, giảm ô nhiễm môi trường. Để thực hiện điều này, Việt Nam cần sớm ban hành và công bố danh mục các ngành CN bị kiểm soát và hạn chế đầu tư, các ngành CN được khuyến khích; có chính sách hỗ trợ, khuyến khích nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới; kiểm soát chặt nhập khẩu công nghệ...

Đặc biệt, để thúc đẩy các DN tham gia vào chuỗi giá trị các MNC, Việt Nam cần củng cố và nâng cao vai trò hoạt động của các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ nhằm tổ chức có hiệu quả việc liên kết các DN trong nước với DN nước ngoài trong chuỗi MNC. Kết nối các DN FDI với DN nội địa trong việc sản xuất các sản phẩm phụ trợ; hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của các chợ công nghệ làm cầu nối giữa các DN trong nước và nước ngoài. Xây dựng và ký kết các hợp đồng liên kết kinh tế với các quốc gia trong khu vực để phối hợp và tận dụng năng lực của nhau và để bước đầu tạo dựng cho DN tham gia vào chuỗi sản xuất kinh tế toàn cầu.

hiền thanh

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang