Ngày 20-10-1990 ông Thái Xuân Thành có sang nhượng cho ông Trần Đình Hánh (đã chết là chồng bà Hoàng Thị Thuận ) một mảnh đất có diện tích 2000m2, tọa lạc trên nông trường 714 nay thuộc xã Ea kar, tỉnh Đắc Lắc. Việc sang nhượng được lập thành văn bản và có người làm chứng là Ông Lê Xuân Hộ (Giám đốc nông trường 714). Gia đình bà Hoàng Thị Thuận đã thường xuyên thực hiện nghĩa vụ thuế hàng năm và sử dụng mảnh đất này ổn định lâu dài từ đó đến nay. Đến tháng 7 năm 2007 bà Lê Thị Vui có đơn gửi UBND huyện Ea kar, tỉnh Đắc Lắc xem xét giải quyết tranh chấp đất với gia đình bà Hoàng Thị Thuận, bà Vui cho rằng chồng bà là ông Thiệu cho ông Hánh (chồng bà Thuận) mượn diện tích 250m2 đất nhưng không có giấy tờ để chứng minh việc cho mượn đất. Tại quyết định số: 436/QĐ-UBND của UBND huyện Ea kar, tỉnh Đắc Lắc ngày 16/7/2007 đã xác minh và kết luận không xem xét giải quyết nội dung đơn tranh chấp đất đai của bà Vui vì diện tích đất bà Vui đòi là không có cơ sở. Sau khi xem xét đơn của bà Vui ngày 16/7/2007 UBND huyện Ea kar đã ban hành quyết định số 436/QĐ-UBND bác đơn yêu cầu của bà Lê Thị Vui là khách quan đúng pháp luật. Thế nhưng tại quyết định số 807/QĐ-UBND ngày 27/3/2008 của UBND tỉnh Đắc Lắc lại giải quyết chấp nhận nội dung đơn khiếu nại đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai của bà Lê Thị vui căn cứ bởi: “Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình bà Lê Thị Vui gặp khó khăn (chồng chết, hai đứa con bị bệnh hiểm nghèo)”. Việc UBND tỉnh căn cứ bà Vui không có đất và đang gặp khó khăn là không đúng thực tế bởi vì hiện tại bà Vui là chủ sử dụng của 03 mảnh đất, trong đó có 02 mảnh đất dịch vụ làm cửa hàng bán hàng hóa có diện tích khoảng 300m2 tại thôn 12 và thôn 2 xã Ea Pal, một mảnh đất trồng cây công nghiệp có diện tích khoảng 1,2ha trên địa bàn thôn 13 xã Ea Pal. Như vậy bà Vui trình bày hoàn cảnh khó khăn là không đúng. Về vấn đề này, quan điểm của địa phương cũng không đồng tình cấp đất cho bà Vui.