Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành đã gò bó, giảm tính tự chủ của các tổ chức tín dụng, không đồng bộ với các Luật khác (ảnh minh họa)
Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế cho rằng, trong quá trình thực hiện Luật Các tổ chức tín dụng (CTCTD) gặp không ít bất cập, nhiều quy định của Luật hiện hành không còn thích hợp đã trở nên gò bó, làm giảm tính tự chủ của tổ chức tín dụng, không đồng bộ với các luật khác mới ban hành (Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán…) và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước đã có nhiều thay đổi, Việt Nam đã trở thành thành viên tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế toàn cầu. Việc hội nhập đặt ra những yêu cầu tất yếu như: đa dạng hóa các hoạt động, dịch vụ ngân hàng; đối xử bình đẳng giữa các loại hình TCTD thuộc các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài; từng bước áp dụng các chuẩn mực quản trị ngân hàng theo thông lệ quốc tế. Mặt khác, quá trình cổ phần hóa các Ngân hàng thương mại Nhà nước đã và đang được triển khai, vì vậy, trong thời gian tới sẽ không còn loại hình Ngân hàng thương mại Nhà nước như quy định của Luật hiện hành.
Ủy ban Kinh tế nhất trí về sự cần thiết phải sửa đổi cơ bản Luật các tổ chức tín dụng nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập của những quy định hiện hành, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.
Đánh giá chung về dự thảo Luật, Ủy ban Kinh tế nhận định, về cơ bản, dự thảo Luật đã có nhiều đổi mới, khắc phục được một số bất cập của Luật các tổ chức tín dụng hiện hành; thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành ngân hàng; dự thảo luật đã đề cập và đưa vào áp dụng nhiều thông lệ, chuẩn mực quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam, qua đó tạo cơ sở pháp lý xây dựng hệ thống tổ chức tín dụng hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức tín dụng nhằm xây dựng thị trường tiền tệ lành mạnh, đồng thời hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn trong hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, dự thảo Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi) còn bộc lộ một số hạn chế như: mục tiêu trong đề án phát triển ngành ngân hàng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 kèm theo Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/05/2006 của Thủ tướng Chính phủ là “Bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức tín dụng trong kinh doanh. Tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng trong nước nâng cao năng lực quản lý, trình độ nghiệp vụ và khả năng cạnh tranh. Bảo đảm quyền kinh doanh của các ngân hàng và các tổ chức tài chính nước ngoài theo các cam kết của Việt Nam với quốc tế”. Tuy nhiên, dự thảo Luật lại thiên về việc tăng cường, kiểm tra, giám sát bảo đảm an toàn, chưa tạo được sự hài hòa giữa bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Các quy định về quản lý nhà nước đối với tổ chức, hoạt động của tổ chức tín dụng còn nặng về hành chính, cấp phép mà chưa thể hiện tư tưởng đổi mới quản lý các tổ chức tín dụng theo tinh thần Quyết định 112.
Trong luật còn nhiều quy định chưa cụ thể, có quá nhiều nội dung giao Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nước quy định (trên 40 nội dung). Một số quy định của dự thảo Luật còn có sự trùng lặp với các luật khác như Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán…
Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng thể hiện rõ quan điểm là cần thiết có các quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm an toàn cho hoạt động ngân hàng, mặt khác cũng bảo đảm quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Đối với một số vấn đề có thể quy định ngay trong Luật thì quy định cụ thể, hạn chế việc ban hành các văn bản dưới luật để bảo đảm tính bình đẳng, công khai, minh bạch của pháp luật. Ví dụ như: quy định các điều kiện đối với cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập, chủ sở hữu tại điểm b, khoản 1 Điều 20; quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục đề nghị cấp Giấy phép tại Điều 21; hồ sơ, trình tự thủ tục chấp thuận các thay đổi tại khoản 2 Điều 29; điều kiện, hồ sơ và thủ tục thành lập, chấm dứt, giải thể chi nhánh, đơn vị sự nghiệp, văn phòng đại diện, các hình thức hiện diện thương mại khác ở nước ngoài tại khoản 2 Điều 30 v.v…
Ngoài ra, để tránh trùng lắp và xung đột giữa các luật, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc theo hướng những quy định đã có trong các luật khác thì không quy định lại ở Luật các tổ chức tín dụng, chỉ nên dẫn chiếu để tránh các cách hiểu khác nhau, đồng thời rà soát loại bỏ những quy định chồng chéo mâu thuẫn với các luật khác.
Trần Nhật