Một ngày đầu thu 2009, tôi bất ngờ nhận cuộc điện thoại của một phụ nữ không quen. Sau câu chào bằng tiếng Nhật: “O hai o go zai ma su?” (Xin chào), người gọi đột ngột hỏi tôi bằng tiếng Anh: “Are you Mr. Tran Duc Anh Son?”. Sau khi tôi xác nhận rằng tôi chính là Trần Đức Anh Sơn thì người ấy xưng danh là Nicola Jones, người New Zealand, đang làm việc cho chính quyền tỉnh Shimane (Nhật Bản), rằng cô ấy đã “tìm kiếm” tôi trong hơn một năm qua. Vì sao cô ấy tìm tôi? Và để làm gì? Đó là một câu chuyện thú vị tôi mà muốn kể với độc giả.
Đầu tháng 8/1997, sau khi kết thúc khóa học tiếng Nhật cấp tốc ở Trường Nhật ngữ Matsue (tỉnh Shimane), tôi đến Trung tâm Quốc tế Shimane đăng ký tham gia chương trình homestay* do trung tâm này tổ chức cho những lưu học sinh nước ngoài đang học tập ở Shimane.
Người ta sắp xếp cho tôi một chương trình homestay 4 ngày tại nhà của ông bà Takemoto ở thành phố Hamada, cách Matsue khoảng 4 giờ xe lửa. Ông Takemoto Kenji nguyên là hạ sĩ quan trong Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản, khi về hưu thì làm nhân viên bảo vệ ban đêm cho một trường trung học ở Hamada. Bà Takemoto Kumiko vốn là giáo viên dạy vẽ ở một trường tiểu học, khi về hưu thì ở nhà làm nội trợ.
Do con cái đã trưởng thành và ra ở riêng, nên hai ông bà thường xuyên tiếp nhận những người nước ngoài tham gia chương trình homestay đến ở lại nhà, “vừa để giao lưu với những người đến từ các nền văn hóa khác, vừa để vui cửa vui nhà”, như cách nói của hai ông bà.
Ông bà Takemoto là những người rất chu đáo và hiếu khách. Trong 4 ngày lưu lại nhà ông bà, tôi được ông bà tiếp đón ân cần, được chỉ dẫn những điều nên và không nên làm khi sống ở Nhật Bản. Ông bà còn giới thiệu với hàng xóm; mời tôi tham gia các hoạt động cộng đồng do các hội đoàn ở địa phương tổ chức và đưa tôi đi thăm thú các di tích, thắng cảnh ở Hamada và các vùng lân cận. Với tôi, đó là khoảng thời gian thú vị nhất trong gần 1 năm tu nghiệp ở Nhật.
Một trong những nơi mà ông bà Takemoto đưa tôi đến thăm là khu di tích Iwami Ginzan, cách Hamada khoảng 1 giờ xe hơi. Khu di tích này nằm cạnh thị trấn Ohda, nguyên là một khu mỏ khai thác bạc thuộc dãy núi Omori Ginzan, nằm trên sườn phía tây của quần đảo Nhật Bản.
Đây là một trong những khu mỏ nổi tiếng nhất của nước Nhật, hoạt động liên tục trong gần 400 năm, kể từ khi được thương nhân Kamiya Jutei ở Hakata (Kyushu) phát hiện vào năm 1526 cho đến khi đóng cửa hoàn toàn vào năm 1923. Thế kỷ 16 là kỷ nguyên đại hàng hải của nhân loại.
Iwami Ginzan là khu mỏ duy nhất của Nhật Bản được người châu Âu biết đến trong kỷ nguyên này. Trên các bản đồ về Nhật Bản và khu vực Đông Á do các nhà hàng hải châu Âu vẽ vào thời đó, Iwami Ginzan được ghi danh là Silver Mine Kingdom (Vương quốc mỏ bạc) hay Silver Mine (Mỏ bạc). Bạc khai thác ở đây có chất lượng thượng hạng, nổi danh với tên gọi Soma Silver (bạc Soma), gọi theo tên của ngôi làng Soma, là nơi cư ngụ của thợ khai mỏ ở Iwami Ginzan. Bạc Soma được giao dịch phổ biến nhất ở Đông Á lúc bấy giờ.
Khoảng thời gian từ cuối thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 17 là thời kỳ hưng thịnh của mỏ bạc Iwami Ginzan. Thời kỳ này Nhật Bản là nước sản xuất bạc đứng hàng thứ 3 trên thế giới, và phần lớn sản lượng bạc của Nhật Bản có xuất xứ từ Iwami Ginzan. Các tư liệu viết về lịch sử thương mại ở châu Á đều thừa nhận Iwami Ginzan đã đóng vai trò then chốt trong lưu thông tiền tệ ở Đông Á trong các thế kỷ 16 - 19.
Vì là một di tích nổi danh, nên những ai có dịp đến Ohda hay các vùng lân cận cũng đều ghé thăm Iwami Ginzan. Tôi không phải là một ngoại lệ. Sau nửa ngày thăm viếng các phế tích hầm mỏ, thăm bảo tàng nghề khai mỏ bạc và các công trình bổ trợ trong khu di tích Iwami Ginzan cùng với ông bà Takemoto, sau cùng, tôi ghé thăm Daikansho, nơi đặt trụ sở cơ quan quản lý khu di tích Iwami Ginzan.
Tại đây, tôi có cuộc chuyện trò nho nhỏ với một thành viên ban điều hành khu di tích Iwami Ginzan. Theo đó, tôi được biết chính quyền thị trấn Ohda đang tiến hành trùng tu, tôn tạo di tích hầm mỏ Iwami Ginzan, sau đó, sẽ xây dựng hồ sơ đệ trình UNESCO xem xét, công nhận Iwami Ginzan là di sản thế giới. Trước khi rời Daikansho, tôi có viết mấy dòng vào cuốn sổ lưu niệm đặt ở tiền sảnh, đại ý chúc Iwami Ginzan sớm được vinh danh là di sản thế giới, rồi ký tên, nhưng không đề địa chỉ.
Sau quá trình trùng tu và tôn tạo cảnh quan Iwami Ginzan, chính quyền thị trấn Ohda và chính quyền tỉnh Shimane (thị trấn Ohda là đơn vị hành chính thuộc tỉnh Shimane) từng bước xây dựng và hoàn thiện bộ hồ sơ về di tích Iwami Ginzan để đệ trình UNESCO. Tháng 7/2007, hồ sơ di tích mang tên Iwami Ginzan Silver Mine and its Cultural Landscape (Mỏ bạc Iwami Ginzan và các cảnh quan văn hóa trực thuộc) đã được UNESCO xét duyệt, Iwami Ginzan chính thức được ghi danh vào danh mục di sản thế giới. Đây là di sản thế giới thứ 14 của Nhật Bản và là khu di tích hầm mỏ đầu tiên của châu Á được vinh danh.
Sau khi được vinh danh là di sản thế giới, chính quyền thành phố Ohda và Ban quản lý di sản thế giới Iwami Ginzan đã gửi thư thông báo tin vui này đến với những người đã quan tâm đến Iwami Ginzan, cùng với lời cảm ơn về những giúp đỡ vật chất, trí tuệ và tinh thần mà họ đã dành cho Iwami Ginzan. Họ đã tìm cách liên lạc với những người đã ghi danh trong cuốn sổ lưu niệm đặt ở Daikansho. Và họ đã tìm thấy tên của tôi với lời chúc Iwami Ginzan sớm trở thành di sản thế giới trong cuốn sổ này. Tuy nhiên, do tôi không để lại địa chỉ, số điện thoại hay bất kỳ thông tin nào ngoài cái tên Trần Đức Anh Sơn, nên người ta không thể biết tôi là ai, người nước nào.
Sau hơn 1 năm tìm kiếm, cuối cùng họ đã tìm thấy tên của tôi trong danh sách lưu học sinh từng du học tại Shimane vào các năm 1997 - 1998. Từ đó, họ tìm ra địa chỉ và số điện thoại của tôi. Nicola Jones là người nước ngoài đang làm việc cho Sở đối ngoại tỉnh Shimane “được giao nhiệm vụ” liên lạc với tôi, vì người Nhật cho rằng giao tiếp bằng tiếng Anh sẽ thuận lợi cho tôi hơn là giao tiếp bằng tiếng Nhật. Và vì thế mà tôi nhận được một cuộc gọi từ Shimane của một cô gái New Zealand. Quả là vô cùng thú vị.
Song câu chuyện chưa kết thúc ở đây. Nicola Jones đã làm cầu nối để tôi tiếp xúc (qua điện thoại và e-mail) với ông Wakatsuki và ông Tabara Atsushi, là những quan chức của Ủy ban Di sản Văn hóa Shimane và Ban Quản lý Di sản Iwami Ginzan. Sau những chào hỏi xã giao và những lời cảm ơn về “sự quan tâm” của tôi đối với di tích Iwami Ginzan 12 năm về trước, họ mời tôi tham gia vào Hội những người bạn của Iwami Ginzan, và nếu được thì đảm nhiệm vai trò “sứ giả quảng bá cho di sản Iwami Ginzan” ở Việt Nam.
Rồi họ gửi cho tôi rất nhiều tài liệu và thông tin về di sản thế giới Iwami Ginzan, trong đó có hai cuốn catalogue (bằng tiếng Nhật và bằng tiếng Anh), với nhiều tư liệu, hình ảnh, bản đồ… giới thiệu chi tiết về lịch sử hình thành, quá trình hoạt động và các giá trị văn hóa, cảnh quan đặc sắc của Iwami Ginzan, cũng như lý do khiến Iwami Ginzan được công nhận là di sản thế giới, để tôi làm tài liệu tuyên truyền và quảng bá cho di sản thế giới Iwami Ginzan.
Đây đúng là một đoạn kết có hậu. Bởi lẽ, vào tháng 3/1998, trước khi tôi rời Nhật Bản, tôi và 21 lưu học sinh quốc tế khác được mời đến Shimane kencho (Trụ sở hành chính tỉnh Shimane) để tỉnh trưởng gặp mặt. Tại đây, đích thân tỉnh trưởng Shimane trao cho chúng tôi mỗi người một “quyết định” công nhận chúng tôi là Đại sứ hữu nghị của tỉnh Shimane cùng với kỷ niệm chương, với mong muốn sau khi về nước, các lưu học sinh quốc tế tiếp tục làm cầu nối để phát huy tình hữu nghị giữa Shimane (và Nhật Bản nói chung) với thành phố (và quốc gia) quê hương họ.
Bây giờ, tôi lại nhận được lời mời trở thành “sứ giả quảng bá cho di sản Iwami Ginzan” ở Việt Nam. Vậy là sau 12 năm gián đoạn, nhịp cầu kết nối giữa tôi với Shimane lại được khai thông, và với tư cách là một “sứ giả văn hóa” của Iwami Ginzan ở Việt Nam, tôi sẽ có cơ hội “làm tròn trách nhiệm” của một Đại sứ hữu nghị của tỉnh Shimane trên quê hương mình mà tỉnh trưởng Shimane đã “giao phó” cho tôi từ 12 năm trước.
Khi tôi đang kể câu chuyện này, cũng là lúc tôi đọc được thông tin trên báo rằng Chính phủ Việt Nam đã chấp nhận cho bà Đỗ Thị Kim Liên, Tổng giám đốc Công ty cổ phần bảo hiểm AAA trở thành Lãnh sự danh dự nước Cộng hòa Nam Phi tại thành phố Hồ Chí Minh do Chính phủ Nam Phi bổ nhiệm. Cũng vào thời điểm này, tôi đọc được trên báo những thông tin “tổng kết” về năm “ngoại giao văn hóa” rất thành công của Việt Nam, với việc trong năm 2009 nhà nước đã cử nhiều đoàn văn nghệ sĩ đi biểu diễn ở Anh, Brazil, Nga, Nhật Bản… để giao lưu văn hóa và quảng bá hình ảnh Việt Nam với bạn bè thế giới.
Chợt nghĩ, sao chúng ta không học tập cách làm của Nhật Bản, của Nam Phi… khi mời những công dân nước ngoài làm “đại sứ hữu nghị”, “lãnh sự danh dự”, “sứ giả văn hóa”… để quảng bá hình ảnh của Việt Nam với quốc tế? Có rất nhiều cách để giới thiệu Việt Nam với thế giới, nhưng dường như chúng ta vẫn cứ quen với cách làm truyền thống là “đưa đoàn ra, đón đoàn vào”, tốn kém ngân sách nhưng hiệu quả chưa hẳn đã như mong đợi.
Viết đến đây mới chợt nhớ “chuyện xưa”: ông Christian Vanwert, một công dân người Bỉ, người đã có nhiều thành tích trong các hoạt động hỗ trợ cộng đồng và giảm nghèo ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Để cám ơn ông, trong một dịp ông sang thăm Huế vào năm 2003, chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế đã trao bằng chứng nhận Người tốt, việc tốt cho ông kèm theo huy hiệu và “quyết định thi hành”.
Ông Christian Vanwert khoe với tôi tấm bằng này và hỏi: “Người tốt, việc tốt nghĩa là gì?” Sau khi được giải thích, ông nói: “Ở các nước khác, chính quyền địa phương thường trao danh hiệu ‘công dân danh dự’ hay ‘đại sứ hữu nghị’ cho những trường hợp tương tự. Với những đóng góp lớn lao thì họ được nhận huy chương của chính phủ hay huân chương tưởng thưởng của nhà nước. Tuy vậy, tôi rất tự hào được công nhận là ‘người tốt’ của tỉnh Thừa Thiên Huế”. Một câu nói nhiều ý nghĩa.
Đúng là chúng ta chưa bằng với thiên hạ trong nhiều việc, kể cả việc làm thế nào để quảng bá hình ảnh quốc gia của mình.
Trần Đức Anh Sơn (Bài đăng trên báo Sinh viên Việt Nam)
