Shiite và Sunni – tại sao huynh đệ tương tàn?
Mâu thuẫn giữa Hồi giáo Shiite và Sunni tại chính trường Iraq ngày càng nghiêm trọng với mức độ đấm đá tranh giành mỗi lúc một quyết liệt, bằng những động thái chẳng hạn việc Thủ tướng Nouri al-Maliki sử dụng công cụ Quốc hội để loại Saleh al-Mutlaq (Sunni) khỏi ghế Phó thủ tướng, rồi việc “chụp mũ” Phó tổng thống Tariq al-Hashemi (Sunni) bí mật sử dụng một biệt đội ám sát chuyên nghiệp. Tháng 10/2011, Maliki đã cho bắt khoảng 600 người Iraq tình nghi cựu thành viên đảng Baath (chủ yếu người Sunni).
Toàn cảnh chính trường Iraq từ khi chế độ Saddam Hussein sụp đổ đã chứng kiến sự hoán vị quyền lực bằng sự trở lại của người Shiite (vốn là cộng đồng chiếm đa số trong suốt chiều dài lịch sử), sau nhiều thập niên bị đè đầu cưỡi cổ thời Saddam (vốn thuộc Sunni). Tình trạng đấu đá, nếu không nói là chém giết nhau đến một mất một còn, giữa Sunni và Shiite tại Iraq thật ra đã bùng nổ từ khi trang sử mới được lật tại Baghdad năm 2003. Tại sao Sunni và Shiite thù hằn nhau?

Trong ngày thánh lễ "Ashura", tín đồ Shiite tự hành xác để chứng minh sự tồn tại mang tính lịch sử của mình
Thành phố Najaf bên dòng Euphrates là trung tâm chính của giáo phái Shiite tại Iraq. Tại đó, có đền thờ Imam Ali (Imam có nghĩa “thủ lĩnh”), tượng trưng cho lịch sử chói lọi và quá khứ đẫm máu của Najaf. Cách đây gần 1.352 năm, Ali – con rể nhà tiên tri Mohammed và được xem là người sáng lập hệ phái Hồi giáo Shiite – đã bị đâm chết trong lễ cầu nguyện tại vùng Kufa gần đó và được chôn tại nơi ngày nay có ngôi đền. Đó là lý do tại sao đền Ali được tôn kính chỉ sau hai thánh địa Mecca và Medina. Cái chết của Ali dường như trở thành lời nguyền ám ảnh Najaf. Hàng chục giáo sĩ Shiite đã bị giết tại ngôi đền này…
Đến nay, hầu hết tín đồ Hồi giáo tin rằng nhà tiên tri Mohammed không hề chỉ định người kế nhiệm (caliph) chính thức. Tuy nhiên, một cộng đồng thiểu số Hồi giáo tin rằng Mohammed thật sự đã chỉ định người kế nhiệm vào tháng 3-632, ba tháng trước khi ông từ biệt trần thế, trong chuyến hành hương cuối cùng đến Mecca.
Theo tín đồ Shiite, khi chiếc xe nhà tiên tri dừng nghỉ gần một cái hồ trên đường đến Mecca, Mohammed nói với các môn đệ rằng, Ali sẽ được chọn làm người kế nhiệm. Ali là em họ nhà tiên tri và cũng là con rể ông sau khi lập gia đình với Fatima. Luôn sát cánh nhà tiên tri trong nhiều chiến dịch quân sự, Ali được Mohammed tin cậy nhất. Tuy nhiên, sau khi Mohammed mất, một nhân vật tên Abu Bakr tự xưng người kế nhiệm (từ 632-634) và ông được tiếp nối bởi Omar (634-644) và Osman (644-656) – hai thủ lĩnh Hồi giáo xuất thân từ giai cấp quý tộc tại Mecca.
Trong con mắt những người ủng hộ Ali, ba vị trên không phù hợp cương vị kế nhiệm nhà tiên tri Mohammed và họ tin rằng chỉ Ali mới xứng đáng, do Ali là thành viên nhóm Hồi giáo nguyên ủy xuất thân từ Medina và là tín đồ Hồi giáo thuần nhất. Sau khi Osman bị ám sát chết trong lúc cầu nguyện, Ali lúc này mới trở thành caliph. Tuy nhiên, sự lên ngôi của Ali bị phản đối bởi Aisha – con gái Abu Bakr, người buộc Ali tội không điều tra cặn kẽ vụ ám sát Osman. Thế là hai bên choảng nhau. Khi đạo quân Ali đánh bại lực lượng Aisha tại trận chiến Camel năm 656, Aisha rút về Madinah quy ẩn. Dù vậy, Ali không thể đọ sức với lực lượng Mu’awiya Ummayad (anh, em họ Osman và là Tổng trấn Damascus).
Trong trận giao tranh tại Suffin, quân Mu’awiya Ummayad treo kinh Koran trên đỉnh giáo, khiến lính Ali không dám xông chiến và cuối cùng Ali phải chấp nhận thương nghị. Vụ trên khiến một số tín đồ Shiite bất mãn và họ xem đó là hành động phản bội. Cuối cùng, Ali bị chính một trong những môn đệ mình giết chết năm 661 (theo bài viết của Tổng biên tập Hussein Abdulwaheed Amin viết trên báo trực tuyến của ông – IslamForToday.com).
Khi Mu’awiya lên ghế caliph, người con trai Ali – Hassan – chấp nhận khoản tiền mua chuộc nhằm không theo đuổi cuộc rửa hận. Một năm sau, Hassan chết, có lẽ bị đầu độc. Người con thứ của Ali – Hussein – tuyên bố lấy lại ghế caliph một khi Mu’awiya chết. Tuy nhiên, khi Mu’awiya mất năm 680, người con của ông – Yazid – lại thay bố chiếm vị trí thủ lĩnh tối cao. Vậy là lại đánh nhau. Hussein thực hiện cuộc chiến đánh Yazid nhưng bất thành và toán binh yếu ớt của ông bị thảm sát tại Kerbela (sau này, một giáo đường vàng được xây tại đây để tưởng niệm sự kiện trên và hiện là điểm hành hương quan trọng thứ hai tại Iraq, sau Najaf). Trong tình thế trứng chọi đá, nhóm thiểu số ủng hộ Ali vẫn chấp nhận đương đầu thành phần đa số. Họ gọi mình là “Shiate Ali” (đảng, nhóm của Ali) và tổ chức phong trào hoằng dương hệ phái Shiite. Từ lúc đó, Hồi giáo bị chia thành hai nhánh chính: Shiite và Sunni.

Thủ tướng Iraq Nuri al-Maliki bị cáo buộc thao túng chính trường để giành quyền lợi chính trị cho cộng đồng Shiite của mình
Sau cuộc đại bại tại Kerbela, tín đồ Hồi giáo Shiite phẫn uất và nhiều người định tự tử. Do luật Hồi giáo không cho phép tự vẫn nên người ta tìm cách khác để chứng minh sự tồn tại mang tính lịch sử của mình. Đến ngày giỗ Hussein (tức con của Caliph Ali) hàng năm, tín đồ Shiite tổ chức lễ “Ashura”, trong đó, họ tự vả mình bằng tay, quật bằng xích hoặc quất bằng roi và có khi cắt lông mày bằng gươm. Không dừng lại, họ tổ chức những nhóm sát thủ bí mật thực hiện cuộc chiến tử vì đạo, bắt đầu từ cuối thế kỷ XI. Nhóm này sử dụng thuốc gây nghiện hashish (một loại lá cây) trước khi hành sự (người sử dụng hashish gọi là “hasasin” – từ nguyên của chữ “assassin” trong tiếng Anh, có nghĩa “kẻ ám sát”).
Theo tuần báo Đức Der Spiegel, mục tiêu của các sát thủ tử vì đạo “hasasin” không chỉ là lính thập tự chinh Công giáo mà thật ra còn là các nhân vật cấp cao trong Hồi giáo Sunni. Và cứ thế, Shiite vẫn nổi loạn và nổi loạn nhưng gần như chưa bao giờ giành được vị thế chính trị vững mạnh, cho đến nửa sau thế kỷ XX, khi xuất hiện Ruhollah Khomeini. Vị giáo chủ (ayatollah) Iran này từng lưu tại Iraq nhiều năm, dạy giáo lý ở Najaf và nâng phong trào Shiite lên cấp độ một lý tưởng cách mạng. Sự trỗi dậy Shiite bùng nổ mạnh khi họ lật đổ thành công chế độ phong kiến Iran trong cuộc Cách mạng Hồi giáo 1979.
Hơn thế nữa, Ruhollah Khomeini còn đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập Hezbollah năm 1982 tại Lebanon với lý do ban đầu chiến đấu chống sự chiếm đóng quân sự của Israel tại Beirut và mục tiêu tối thượng là biến Lebanon thành quốc gia Shiite. Hiện tại, Shiite chiếm đa số tại Iran; Yemen, Azerbaijan và khoảng 60% trong 23 triệu người Iraq (so với 20% của Sunni). Trong cộng đồng Hồi giáo thế giới, Shiite chiếm từ 10-15%, tức khoảng 150 triệu trong tổng cộng 1,3 tỉ tín đồ Hồi giáo.
Shiite và Sunni – yếu tố của xung đột chính trị toàn Trung Đông
Tại Iraq, vấn đề Shiite – Sunni đã nhen nhóm từ ngay sau khi Saddam Hussein bị lật đổ. Vụ ám sát thủ lĩnh Hồi giáo Shiite Bakr al-Hakim vào tháng 8/2003 không là vụ đầu tiên gây kinh động giai đoạn hậu Saddam. Trước đó, 7 ngày sau khi trở về Iraq từ nơi lưu vong London ngày 3/4/2003, giáo sĩ Abdul Majid al-Khoei (Hồi giáo Shiite) cũng bị bắn và đâm ít nhất 30 nhát tại Đền Imam Ali. Vấn đề Sunni-Shiite tại Iraq đã vậy, trên bình diện Trung Đông, tình hình còn phức tạp hơn. Như được tác giả Malise Ruthven thuật trên NyBooks (22/12/2011), năm 2004, khi các đảng Shiite chiến thắng trong các cuộc bầu cử Quốc hội Iraq, Vua Abdullah của Jordan đã cảnh báo cái gọi là hiện tượng “trăng lưỡi liềm Shiite” rọi tỏa ảnh hưởng từ Iran sang Iraq, Syria và Lebanon (Iran vốn tự nhận là Hồi giáo Shiite “thứ thiệt”, là “phiên bản gốc”).
Tiếp đó, Ngoại trưởng Arập Xêút, Saud bin Faisal bin Abdul-Aziz Al Saud, cũng nói rằng việc Mỹ mở cửa cho Hồi giáo Shiite tại Iraq sẽ mang lại những xáo trộn phức tạp cho khu vực. Trong một bài viết trên Washington Post vào tháng 11/2006, Nawaf Obaid, cố vấn an ninh của Vua Abdullah (Arập Xêút), thậm chí kêu gọi một sự ủng hộ đối với thành phần Sunni tại Iraq. Bổ sung thêm, Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak (thời điểm đó) cũng lo ngại sự hiện diện Shiite tại Trung Đông sẽ khiến ảnh hưởng Iran dễ bành trướng…

Cộng đồng Sunni biểu tình tại Iraq
Nỗi lo Shiite đối với Trung Đông nói chung và Arập Xêút nói riêng chẳng là chuyện mới. Thành phần chính trị Hồi giáo Arập Xêút vốn xuất thân từ hệ phái Wahhabi gần gũi với Sunni, nhóm từng tấn công loạt đền thờ Shiite tại Iraq vào thế kỷ XIX. Vấn đề Sunni – Shiite càng trở nên nóng bỏng với những diễn biến liên quan cuộc Cách mạng mùa xuân Arập (một tác nhân quan trọng ít được đề cập).
Tại Bahrain, loạt biểu tình trong năm 2011 đều xuất phát từ sự đòi quyền lợi của cộng đồng Shiite (chiếm 70% dân số). Chẳng phải ngẫu nhiên mà Arập Xêút đã nhiệt tình phái lính sang cứu chế độ Sunni tại Bahrain (được hỗ trợ thêm bởi các binh đoàn đánh thuê người Sunni đến từ Jordan, Pakistan và Tiểu vương quốc Arập thống nhất).
Cục diện bạo động tại Syria cũng tương tự. Nếu chẳng bởi là cuộc xung đột truyền thống Sunni – Shiite mà từ lý do đơn giản hơn là đòi hỏi dân chủ, chiến dịch phản kháng của dân Syria có thể đã bị dập tắt. Hơn 5.000 người đã bị giết một cách tàn khốc nhưng người ta vẫn cứ gào thét đổ nhào ra đường đương đầu với cái chết. Chỉ có xung đột tôn giáo mới khiến dân Syria cuồng nộ liều mình thí mạng như vậy. Cần nhấn mạnh, một trong những xuất phát điểm của làn sóng biểu tình tại Syria là sự phản kháng của cộng đồng Sunni (chiếm 3/4 dân số), đối mặt với lực lượng an ninh – quân đội Syria vốn chủ yếu là dân Alawite (hệ phái thuộc Shiite). Đó cũng là lý do tại sao Tehran đã phái một số sĩ quan Vệ binh Cộng hòa cấp cao đến Syria để giúp Damacus trị loạn ngay từ đầu năm 2011.
| Thủ tướng Iraq Nuri al-Maliki ngày 21/12 kêu gọi chính quyền khu tự trị người Kursk giao nộp Phó tổng thống Tariq al-Hashemi, người đang bị truy nã với cáo buộc điều hành một nhóm sát thủ. |
Tháng 3/2007, trong một động thái trấn an khu vực, đặc biệt Arập Xêút (quốc gia có ảnh hưởng mạnh tại Trung Đông), Tehran đã có một cuộc họp thượng đỉnh giữa Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad và Vua Abdullah để nhấn mạnh rằng, Iran chẳng hề lợi dụng vấn đề xung đột Shiite – Sunni nhằm chia rẽ thế giới Hồi giáo cho mục đích chính trị riêng. Nói là một chuyện, làm là chuyện khác. Câu hỏi cũ rằng, liệu Iran, bằng lá bài Shiite, có thể gây ảnh hưởng cho tương lai chính trị Trung Đông, đã một lần nữa được đặt ra khi Teheran nhúng mũi vào vấn đề nhân sự nội chính Iraq.
Trước cuộc bầu cử Quốc hội vào tháng 3/2010 tại Iraq, Iran đã kêu gọi giới lãnh đạo Shiite Iraq hãy cùng đứng chung một liên minh để chiếm lĩnh Quốc hội. Khi điều này thất bại, Iran lại giục cộng đồng chính trị Shiite tiếp tục ủng hộ Thủ tướng Nouri al-Maliki. Dù vậy, đến thời điểm này, ảnh hưởng Shiite Iran đối với Shiite Iraq dường như vẫn còn hạn chế.
Washington Post (15/12/2011) cho biết, vào tháng 11/2011, khi “đón gió” việc Mỹ triệt thoái khỏi Iraq, một giáo sĩ cấp cao Iran đã ngỏ lời xin mở một văn phòng tại thành phố thiêng Najaf (Iraq). Tuy nhiên, đáp trả đề nghị trên là một thái độ khước từ dữ dội. “Anh có biết ai ở Iraq ghét Iran hơn bất kỳ người nào khác không? Đó chính là dân Najaf đấy!” – phát biểu của Neama al-Ebadi, Giám đốc Trung tâm Học thuật – Nghiên cứu Iraq tại Najaf. “Đám Shiite Iran luôn nghĩ rằng, người Iran là hạng nhất và chúng thượng đẳng hơn người Arập. Nhưng dân Najaf thì tin rằng họ mới là những người Shiite nguyên thủy còn bọn Iran chỉ là bản sao” – Neama al-Ebadi nói thêm.
Với đa số dân Iraq, bất chấp Sunni hay Shiite, việc Iran muốn “điền vào chỗ trống” thay thế Mỹ tại nước họ là điều khó có thể chấp nhận. Baghdad không bao giờ muốn là con rối của Tehran. Điều này là chắc chắn, ít nhất ở thời điểm hiện tại!
Mạnh Kim