
So với các năm trước, năm 2011, dù số lượng dự án đến với Hội không nhiều nhưng chúng ta lại có điều kiện tập trung vào chiều sâu. Đặc biệt, dự án ghép nhãn trên vải được tập trung làm tốt ở mọi khâu. Mấy năm nay, dự án này có nguồn kinh phí khá lớn, đã góp phần xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới ở vùng được đầu tư. Từ xuất phát điểm là những vùng đất cằn, trồng vải cho hiệu quả kinh tế không cao, nhiều nông dân đã bắt đầu tiếp cận và quen dần với “công nghệ” mới trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất. Sản xuất theo quy trìnhVietGAP là chủ trương lớn và không thể hiện thực hóa trong một sớm một chiều. Ông đánh giá như thế nào về chặng đường chinh phục VietGAP của nông dân và hội viên Hội Làm vườn trong những năm qua? VietGAP thực sự là chủ đề lớn. Hiểu một cách cơ bản nhất, đây là nỗ lực ứng dụng kỹ thuật mới vào sản xuất. Chúng ta có xuất phát điểm rất khiêm tốn, tôi nghĩ dù mấy năm qua đã làm được nhiều việc nhưng mọi thứ đều còn hạn chế. Để đơn giản hơn, để bà con dễ áp dụng và làm theo, chúng ta có thể bắt đầu áp dụng VietGAP bằng việc cải tạo những khu vườn tạp. Trung ương Hội đã phát động phong trào này mấy năm rồi và tôi cho đây là việc làm đơn giản nhưng mang lại hiệu quả rất thiết thực. Việc chặt bỏ những cây giống cũ, già cỗi không cho hiệu quả kinh tế cao để thay thế bằng cây mới tưởng đơn giản nhưng khi bắt tay vào thực tế mới thấy nhiều cái khó. Có người nghi ngại về hiệu quả, có người vì thói quen mà không muốn thay đổi,… Tuy thế, 2011 vẫn là năm đột phá về cải tạo vườn tạp của Hội. Tiêu biểu là chúng ta đã xây dựng được diện tích lớn trồng xoài cát Hòa Lộc ở Nha Trang (Khánh Hòa) từ những khu vườn tạp, tôi nghĩ nên bắt đầu áp dụng VietGAP từ những điều đơn giản như vậy. Ngoài việc cải tạo vườn tạp, VietGAP có thể được “đơn giản hóa” bằng những việc làm gì nữa, thưa ông? Với cây ăn quả, chúng ta đều biết, vấn đề ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng chính là việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật chưa đúng cách. Không những cần chọn lọc loại thuốc tốt, bà con còn cần nắm vững quy trình về “giới hạn” thời gian trước khi thu hoạch. Điều này chúng ta đã nói đến khá nhiều, nhưng theo tôi, nhắc lại vẫn không thừa. Thực tế cho thấy, vẫn có nhiều lô hàng nông sản của chúng ta xuất đi bị trả lại vì tồn dư thuốc bảo vệ thực vật. Câu chuyện này, vài năm nữa vẫn chưa kết thúc vì với cách làm, cách tuyên truyền về VietGAP chưa đến nơi đến chốn như hiện nay, bà con ở nhiều vùng nông thôn có thể vẫn còn “ngơ ngác” khi nhắc đến VietGAP. Những năm qua, Hội Làm vườn đã tích cực hướng dẫn bà con làm VietGAP, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long như các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ... Về cơ bản, bà con rất yêu thích phong trào này và tích cực làm theo. Theo phản ánh, sản phẩm áp dụng VietGAP đã thu hút được nhiều người tiêu dùng hơn vì đa số diện tích sử dụng các loại phân bón lá, phân sinh học thân thiện với môi trường… Với đà này, tôi tin chúng ta sẽ sớm hiện thực hóa giấc mơ VietGAP. Thưa ông, năm 2012, chúng ta đã thu hút được những dự án nào và công việc sẽ tiến hành ra sao? Trước mắt, chúng ta vẫn tiếp tục dự án ghép nhãn trên vải. Năm 2011, giai đoạn 1 của dự án đã kết thúc với những kết quả khá tốt đẹp, được cơ quan chủ quản đánh giá cao. Trên đà này, năm 2012, chúng ta sẽ tiếp tục mở rộng dự án ra diện tích 5ha. Sẽ có 5 lớp tập huấn cho bà con, mỗi lớp 30 – 35 người. Ngân hàng Phát triển châu Á nhìn thấy hiệu quả và triển vọng của dự án này nên tiếp tục là “bà đỡ’ cho chúng ta. Trong quá trình thực hiện, chúng tôi sẽ đặc biệt lưu ý đến công tác khuyến công, khuyến nông. Hội đã xác định khó khăn luôn nhiều hơn thuận lợi. Tuy nhiên, tôi nghĩ, với bất cứ dự án nào, việc hô hào suông sẽ không bao giờ mang lại kết quả. Hãy làm, hãy cho bà con nhìn thấy hiệu quả kinh tế nâng lên rõ rệt từ từng mảnh vườn, thửa ruộng, họ sẽ bị thuyết phục và chủ động làm theo. Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này! Quỳnh Chi (thực hiện) |