
Sản xuất chè tại Nhà máy chè Tân Cương
Theo Hiệp hội Chè Việt Nam (Vitas), hiện cả nước có gần 132.000 ha chè, sản lượng trên 185.000 tấn chè khô, tạo việc làm cho hơn 3 triệu lao động của 35 tỉnh thành trong cả nước. Ông Đoàn Anh Tuân – Chủ tịch Vitas cho biết, năm 2011 là một năm đầy sóng gió đối với ngành chè, mặc dù thời gian qua chỉ có một bộ phận nhỏ nông dân sản xuất ra sản phẩm chè trộn tạp chất và xuất sang Trung Quốc nhưng người tiêu dùng không khỏi bị ám ảnh bởi hai từ “chè bẩn”. Năm 2011, xuất khẩu chè đạt 131.000 tấn, kim ngạch 198 triệu USD, giảm 4,3% về lượng và 0,8% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Mặc dù đứng thứ 5 thế giới về kim ngạch xuất khẩu nhưng thương hiệu chè Việt Nam không được đánh giá cao một phần do những hạn chế trong phương thức canh tác, ý thức sản xuất sạch của người trồng chè. Bởi vậy, việc thay đổi thói quen canh tác, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình sản xuất, áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế là yếu tố sống còn để nâng cao giá trị chè Việt.
Mới đây Hiệp hội chè Việt Nam và tổ chức Solidaridad cùng hãng Unilever đã khởi xướng việc sản xuất chè theo hai bộ tiêu chuẩn quốc tế là Rainforest Alliance và UTZ Certified- được xem như giải pháp giúp ngành chè Việt Nam tháo gỡ khó khăn, lấy lại uy tín trên thị trường và phát triển bền vững.
Trong năm qua, Vitas đã kết hợp với hai tổ chức là Solidaridad và Unilever giới thiệu vào Việt Nam hai chứng chỉ chè an toàn là Rainforest Alliance (RFA) và UTZ Certified – đã được áp dụng từ lâu trên thế giới. Ông Tuân cho rằng đây là một biện pháp giúp ngành chè tháo gỡ khó khăn, phát triển bền vững. Tại Việt Nam hiện có hai đơn vị đi tiên phong trong việc áp dụng sản xuất chè theo chứng chỉ quốc tế là Công ty chè Phú Bền (Phú Thọ) theo chứng chỉ RFA. Chứng chỉ UTZ được áp dụng tại HTX Tân Hương (Thái Nguyên).
Bà Nguyễn Thị Nhài – Phó Chủ nhiệm HTX Tân Hương cho biết, từ năm 2001-2010, HTX đã sản xuất chè an toàn nhưng trong quá trình sản xuất do quản lý lỏng lẻo nên hiệu quả chưa được như mong đợi, sản phẩm làm ra chưa có sức cạnh tranh cao. Năm 2011, được sự giúp đỡ của Vitas và tổ chức Solidaridad, chúng tôi chọn hướng sản xuất chè theo tiêu chuẩn quốc tế. Việc tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu theo bộ tiêu chuẩn của UTZ Certified đã giúp cho sản phẩm chè có giá cao hơn so với sản phẩm sản xuất thông thường từ 20-30%. Đặc biệt việc sản xuất theo tiêu chuẩn UTZ giúp giảm bớt chi phí ban đầu, hiện nay mỗi hộ xã viên chỉ bón từ 5-7kg đạm/sào thay vì bón 10-15kg trước đó, đặc biệt sản phẩm sử dụng phân bón ít nhưng năng suất không giảm, chè ít sâu bệnh hơn và chất lượng cao hơn hẳn, chè đậm hơn, hương vị thơm hơn, nước trong.
Bà Lê Hồng Vân – đại diện tổ chức Solidaridad cho biết, trong chứng nhận UTZ có 4 loại quy định: quy định bộ nguyên tắc cho đồng ruộng khống chế khâu trồng lá chè xanh; nguyên tắc khác khống chế khâu chế biến có quy định chặt chẽ về hương liệu, đầu vào, đầu ra, quá trình sản xuất; quy định về đóng gói bao bì sản phẩm được trộn như thế nào, sử dụng hương liệu ra sao có sự giám sát chặt chẽ của thanh tra; quy định về gắn logo trên bao bì sản phẩm. Sản xuất chè theo tiêu chuẩn UTZ giúp bảo vệ môi trường, tiết kiệm chi phí, bảo vệ cả người sản xuất và người tiêu dùng có thể truy xuất được nguồn gốc sản phẩm.
Theo Phó giám đốc phụ trách sản xuất của Công ty Chè Phú Bền, nhờ áp dụng bộ tiêu chuẩn RFA mà giá xuất khẩu chè bình quân của Công ty trong năm 2011 đạt hơn 2 USD/kg, cao hơn nhiều so với mức giá xuất khẩu bình quân 1,5 USD/kg của cả nước. Công ty đã đưa sản phẩm có chứng chỉ RFA vào các thị trường khó tính của EU.
Bà Bùi Thu Hương – đại diện hãng Ulinever cho biết, thời gian tới Unilever sẽ thu mua khoảng 30.000 tấn nguyên liệu chè đen chiếm 70% sản lượng chè đen tại Việt Nam. Ulinever chấp nhận trả cao hơn giá thị trường cho các sản phẩm chè có chứng chỉ quốc tế. Công ty sẽ giúp đỡ để nhân rộng các mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn này.
Ông Tuân cho biết, để vực dậy uy tín cho sản phẩm chè Việt Nam, ngành chè lấy năm 2012 là năm khởi động cho chương trình “Vì sản phẩm trà an toàn, sản xuất có trách nhiệm”. Nhiều chuyên gia cho rằng, việc thay đổi thói quen sản xuất chè là yếu tố cực kỳ quan trọng quyết định đến sản phẩm chè mang thương hiệu Việt Nam.
Điều quan trọng chính là việc thay đổi ý thức của người nông dân, để họ hiểu và tự giác tuân thủ các quy định về sản xuất sạch, biết cách canh tác đúng, giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật, bên cạnh đó cần có sự chia sẻ thông tin, hỗ trợ kỹ thuật từ phía các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè với nông dân trong quá trình sản xuất an toàn này.
Cũng theo ông Tuân, việc sản xuất chè sạch theo tiêu chuẩn VietGAP hay GlobalGAP đã được áp dụng nhiều tại Việt Nam nhưng hai tiêu chuẩn này chỉ mang tính nội bộ, ra thế giới giá trị không cao. Tuy nhiên nếu áp dụng theo hai bộ tiêu chuẩn quốc tế RFA hay UTZ thì khi xuất khẩu người sản xuất hoàn toàn có thể yên tâm vì người tiêu dùng nước ngoài chấp nhận trả giá cao hơn khi nhìn thấy logo này. Họ sẵn sàng trả giá cao hơn từ 30-40% so với sản phẩm thông thường.
Minh An