Bốn năm trước, điện thoại xuất xứ Trung Quốc đổ bộ vào Việt Nam nhưng thất bại. Một nhãn hiệu Việt dựng lên cũng không thành công.
Giá rẻ giúp cho chiếc điện thoại di động có thể đến với nhu cầu sử dụng của cả những người có thu nhập thấp hiện nay Ảnh: Lê Quang Nhật
Nhà nhà đi làm điện thoại di động
Ba năm trước, công ty Thành Công Mobile giới thiệu nhãn hiệu Bavapen ra thị trường, sau quá trình chọn lọc linh kiện của các hãng sản xuất điện thoại di động từ Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc và đặt lắp ráp tại một nhà máy khác. Giám đốc công ty Thành Công Nguyễn Quốc Bảo cho biết: “Có đi làm mới thấy nó không quá phức tạp. Giá cỡ nào cũng có với chất lượng tương ứng”. Một năm rưỡi sau, thị trường đón nhận tên tuổi mới Q-Mobile cũng của một công ty trong nước. Nhãn hiệu này được xem là thành công trên thị trường điện thoại di động Việt Nam, với hơn 20 mẫu có giá từ 3 triệu đồng trở xuống. Sau hơn năm hoạt động, thị phần của Q-Mobile có lúc đã vượt Samsung, Sony Ericsson, Motorola, khiến các các hãng sản xuất lớn e dè. Với lượng hàng nhập khẩu trong tháng 3.2009, thị phần của Q-Mobile từ 5% (tháng 2.2009) tăng lên 10%. Cùng thời gian trên, thị phần Samsung từ 11,9% còn 7,4%, Sony Ericsson từ 5,04% còn 0,63%, Motorola từ 3,5% còn 1,63%..., theo thông tin từ trung tâm Thông tin thương mại và công nghiệp (bộ Công thương).
Danh sách các doanh nghiệp trong nước đặt hàng gia công hoặc nhập khẩu trực tiếp từ các nhà sản xuất Trung Quốc ngày càng đông như công ty Vũ Hoàng Hải với Mobell, Cayon và K-Touch; công ty Hưng Lợi với Malata, công ty Đại Dương với G-Tide…, hay gần đây là P&T Mobile với MobiStar và FPT với F-Mobile. Không chỉ có doanh nghiệp phân phối, các nhà cung cấp dịch vụ mạng như S-fone, Vinaphone, Viettel cũng đặt hàng điện thoại di động với các nhãn hiệu như Eco, Alo, VT.
Chi phí sản xuất thấp, chiết khấu phân phối cao
Phân khúc mà các nhãn hiệu nội địa và các nhà nhập khẩu quan tâm chính là nhóm sản phẩm giá thấp. Ông T., nguyên trưởng đại diện của một hãng điện thoại di động cho rằng, giá thành bình quân của một chiếc điện thoại di động đã giảm nhiều. So với cách đây hai năm chỉ còn khoảng 60%. Theo ông T., nguyên nhân giá thành giảm là do nhiều nhà máy tại Trung Quốc đã hết chi phí khấu hao hệ thống và quyền sở hữu bản quyền công nghệ mà các hãng giao cho nhà máy cũng đã hết hiệu lực.
Giám đốc kinh doanh của một nhãn hiệu vừa công bố trên thị trường cho biết thêm, cũng chất lượng như nhau nhưng mang nhãn hiệu toàn cầu sẽ có giá khác, còn mang những nhãn hiệu nhỏ, giá chỉ bằng một nửa hoặc cao lắm là 2/3. Ông Đinh Anh Huân, giám đốc kinh doanh của Thế giới Di động phân tích: “Các nhãn hiệu nội địa ít chi quảng cáo, phí nghiên cứu rất thấp, chi phí marketing nhỏ… Thỉnh thoảng mới có một vài doanh nghiệp quảng cáo trên các tờ báo hoặc tài trợ các sự kiện xã hội. Chi phí ít nên giá thực tế thấp là điều không có gì khó hiểu”.
Định giá bán thấp, hàng bán số lượng nhiều, các chủ di động thương hiệu Việt còn giữ chỗ ở quầy kệ trong hệ thống phân phối bằng chiết khấu hấp dẫn. Một nhà phân phối điện thoại di động (đề nghị không nêu tên) cho biết, mức chiết khấu dành cho nhà phân phối cao hơn các hãng lớn.
Giới am hiểu về nhóm hàng điện thoại di động cho rằng, ngoài chi phí thấp, việc chọn linh kiện và nguyên liệu cũng là yếu tố quan trọng để hạ giá thành sản phẩm. Dù đã có những cải tiến về chất lượng nguyên liệu để làm vỏ máy, thân máy, màn hình tốt hơn nhưng không thể bằng hàng của các hãng lớn. Ông Lê La, một người lăn lộn nhiều trong nhóm hàng này nhận xét: “Những chiếc điện thoại nhãn hiệu nhỏ có ưu điểm hơn về ứng dụng đa phương tiện, còn về độ bền, độ sắc sảo, giá trị chất xám trong những chiếc điện thoại này chưa cao là nguyên nhân giá thành rẻ”.
Hậu mãi: hàng đổi hàng
Theo giới kinh doanh điện thoại di động, nhãn hiệu Việt được chia thành hai nhóm: nhóm nhập khẩu và nhóm sản xuất. Nhóm nhập khẩu nguyên chiếc có đầu tư một ít ở giao diện tiếng Việt để dễ bán hàng. Nhóm sản xuất, tùy doanh nghiệp, có thêm các khâu như thiết kế mẫu mã, thiết kế giao diện ứng dụng, gia tăng giá trị bằng những ứng dụng có sẵn trong nước. Trao đổi với Sài Gòn Tiếp Thị, cả hai nhóm đều khẳng định rằng, muốn tồn tại, không thể duy trì cách “ăn xổi ở thì” mà phải có chính sách giá, chất lượng và dịch vụ hậu mãi.
Để tạo dựng lòng tin cho khách hàng, nhiều thương hiệu mới đã xây dựng chính sách đổi sản phẩm bị lỗi kỹ thuật trong vòng một tuần sau khi mua. “Chúng tôi hiểu sản phẩm của mình nên khi sử dụng, nếu có trục trặc kỹ thuật, sẵn sàng đổi sản phẩm mới cho khách hàng”, ông Vũ Trọng Hữu, giám đốc công ty Vũ Hoàng Hải nói. Hình thức hậu mãi “hàng đổi hàng” đã được nhiều doanh nghiệp áp dụng. Có doanh nghiệp công bố chính sách thay thế linh kiện với giá hợp lý để người mua có thể hình dung hết các khoản chi phí phát sinh khi sản phẩm hết thời gian bảo hành.
Cũng như nhóm điện thoại nhãn hiệu toàn cầu, các nhãn hiệu nhỏ cũng đưa ra thời gian bảo hành là 12 tháng, riêng sản phẩm F-Mobile là 13 tháng. Ông Ngô Nguyên Kha (P&T Mobile) cho biết, quy trình bảo hành cho các sản phẩm MobiStar được thực hiện theo đúng quy trình của các hãng lớn mà công ty đã từng làm. Ông Hữu cam kết: nếu khách hàng ở TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng sẽ được bảo hành trong ngày, còn các tỉnh thành khác tùy thuộc vào thời gian chuyển hàng. Hiện công ty này đã “tiếp nhận” nhiều trung tâm bảo hành của các hãng lớn khác tại địa bàn TP.HCM.