Chuyện xưa kể rằng, vào những năm cuối của thế kỷ XVII, vua Lê Chính Hòa trong một lần đi kinh lý đến thăm địa bàn các xã thuộc Phủ Hoài Đức, khi đi qua cánh đồng làng Đại Phú, nay thuộc xã Thượng Mỗ (Đan Phượng) tình cờ nhà vua nghe thấy tiếng hát cất lên từ ruộng lúa vàng óng:
“Tay cầm bán nguyệt (liềm gặt lúa) thênh thang
Hàng trăm ngọn cỏ nai hàng tay ta...”
Tiếng hát của người con gái đầy lý luận mà trong sáng đến nỗi nhà vua cho dừng kiệu, yêu cầu quan Thượng thư Bộ lễ cho mời cô gái có tiếng hát lạ đó đến bên kiệu để xem mặt. Rồi sau ba ngày đi kinh lý, về đến Phủ Hoài Đức, vua lệnh cho các quan chuẩn bị lễ vật, mang kiệu về làng Đại Phú đón người con gái hát trên cánh đồng lúa đó về làm vợ, sắc phong là Đệ nhị cung phi. Người con gái ấy chính là bà Nguyễn Duy Thị Hồng, cụ tổ của những điệu ca trù vùng quê Thượng Mỗ.
Về Thượng Mỗ, lãnh đạo xã cho chúng tôi biết: Theo năm tháng, hát ca trù ở vùng quê Thượng Mỗ đã bị mai một rất nhiều. Hiện nay chỉ còn duy nhất người dòng họ Duy, thuộc thôn Đại Phú là còn duy trì hát ca trù. Mặc dù ý thức bảo tồn vốn văn hóa cổ là rất cần thiết, xã cũng có nhiều biện pháp, đầu tư cả kinh phí để duy bộ môn ca trù và năm 2003, Hội văn nghệ dân gian đã cấp Bằng công nhận Thượng Mỗ là địa chỉ văn hóa dân gian... nhưng xem ra tất cả những cố gắng trên đều không mấy hiệu quả.
Lý giải vấn đề “khó hiểu” trên ông Nguyễn Duy Sách - cây đàn Đáy cự phách của làng ca trù Đại Phú cho hay: Hiện nay dòng họ Duy nhà ông không còn mấy người theo nghề của cụ cố tổ để lại. Nguyên do không phải ca trù không có người nghe, mà ngược lại ông và em gái Nguyễn Thị Tam có thể sống “đàng hoàng” nhờ hát ca trù. Theo ông nguyên nhân sâu xa chính là bởi nền kinh tế thị trường đã cuốn con người ta đi xa nhanh hơn với những nét đẹp văn hóa cổ. Ngay như trong dòng họ nhà ông, con cháu đều có thể hát ca trù được, nhưng chúng không chịu học cũng bởi ca trù là một bộ môn ca nhạc thính phòng, hình thành trên nền tảng của âm nhạc dân gian Bắc bộ rất khó nhớ, khó học. Thay vì học ca trù, lớp trẻ họ Duy hát nhạc mới rất “sành điệu”. Bởi ca từ của nhạc mới là những gì “gấp gáp”, “sôi động”, “nóng hổi” của cuộc sống hào hoa thị thành nên rất dễ hằn sâu vào cách sống, nếp nghĩ của lớp trẻ... Chứ không như những âm thanh trong sáng, lung linh của ca trù vừa tinh túy, thâm trầm, sâu lắng mà còn phải có sự hòa quyện của văn chương và âm nhạc.
Những ai yêu mến bộ môn ca trù đều hiểu rõ bộ môn này rất kén người hát, mà một nguyên tắc bất di bất dịch đó là người hát phải là nữ giới (nam giới không được hát, chỉ có thể đàn và đánh trống). Người ta chỉ dùng từ đi nghe hát ca trù, chứ không ai dùng từ đi xem hát như đối với một số bộ môn nghệ thuật khác. Bởi thể loại này tất cả mọi tinh túy đều tập trung vào âm thanh - một trong những yếu tố tạo nên vẻ đẹp của ca trù. Trong vẻ đẹp đó, tiếng phách, tiếng hát, tiếng đàn và tiếng trống được hòa quyện vào nhau tạo thành thứ âm thanh “như ngọc sáng lung linh”... Vì thế mới có chuyện dòng họ Duy ở Thượng Mỗ, hễ cứ nhà nào con dâu mang bầu là cả nhà xúm vào chăm sóc, nuôi một đàn gà béo, đợi khi con dâu sinh hạ cho dòng họ một cô con gái là thịt gà, ngả lợn khao làng. Nhưng nếu sinh hạ con trai thì gà sẽ được mang đi bán và không có chuyện khao họ, khao làng... Nguyên tắc bất di, bất dịch đó cũng là một yếu tố khiến họ Duy ngày càng ít người hát ca trù.
Theo bà Nguyễn Thị Tam, ngày nay muốn truyền được nghề ca trù cho một người thì phải mất ít nhất ba năm. Còn thời của bà, học hát ca trù rất công phu, cô nào thông minh, xuất sắc lắm cũng phải một năm mới cầm được phách để hát, còn lại trung bình học chuyên cần trong 5 năm. Bên cạnh đó, việc bảo tồn ca trù ở Thượng Mỗ còn phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết về ca trù của giới trẻ. Do vậy cũng dễ hiểu vì sao giới trẻ của làng Đại Phú và con cháu dòng họ Duy chưa tìm đến với bộ môn nghệ thuật này.
Thêm một nguyên nhân khiến ca trù mai một trên đất Thượng Mỗ đó là bởi ở vùng quê này người dân đang hối hả, tất bật với kinh tế ruộng vườn. Ở đây, đã lâu lắm rồi không còn cái không khí hội hè cho ca trù phát triển.
Để phát huy, bảo tồn bộ môn ca trù - một nét đẹp văn hóa không phải vùng quê Bắc bộ nào cũng có, trong những năm gần đây, lãnh đạo xã Thượng Mỗ đã có chủ trương nhân rộng bộ môn ca trù trên địa bàn toàn xã theo cách thành lập CLB yêu mến ca trù và cho mời hai nghệ nhân giỏi nhất của dòng họ Duy là ông Nguyễn Duy Sách, bà Nguyễn Thị Tam giảng dạy cho các thành viên trong CLB. Hôm chúng tôi về thăm CLB, ông Sách và bà Tam vui mừng thông báo CLB do ông bà giảng dạy hiện đã thu hút hơn 20 cháu theo học, chủ yếu là các cháu từ 10 đến 15 tuổi. Đây là điều rất “hiếm” sau nhiều năm cố gắng duy trì hát ca trù của vùng quê Thượng Mỗ. Các cháu đến với CLB ca trù được học miễn học phí, được cùng tham gia biểu diễn trong các ngày lễ hội ở nhiều vùng quê khác nhau với ông bà Nguyễn Duy Sách, Nguyễn Thị Tam nên các cháu rất chăm chỉ học. Vào dịp đầu xuân, CLB ca trù Thượng Mỗ cũng tham dự Ngày hội ca trù toàn quốc tại Văn Miếu, Quốc Tử Giám và đã gây được nhiều ấn tượng bất ngờ với ban giám khảo. Từ sau Ngày hội đó, CLB ca trù của Thượng Mỗ được nhiều người biết tiếng, có rất nhiều người dân say mê ca trù đã tìm về Thượng Mỗ đón CLB đi biểu diễn, mời ông bà Sách, Tam đến hát trong mùa lễ hội của các làng trong tỉnh.
Điều băn khoăn nhất của lãnh đạo xã Thượng Mỗ hiện nay là con cháu trong dòng họ Duy - nhiều người am hiểu về ca trù, có thể sáng tác các điệu ca trù mới... lại không có ai tham gia CLB ca trù. Những người nhiệt tình, gắn bó cả đời với ca trù như ông bà Nguyễn Duy Sách, Nguyễn Thị Tam hiện tuổi đã cao, tâm huyết và lửa nhiệt tình luôn tràn đầy nhưng sức khỏe thì không cho phép ông, bà có thể cố mãi với CLB. Do vậy, việc duy trì, bảo tồn những điệu ca trù cổ, quý hiếm tại các vùng quê Bắc bộ, như vùng quê Thượng Mỗ là một điều rất quan trọng. Điều này đã vượt quá tầm của lãnh đạo xã Thượng Mỗ.
Đã đến lúc, Sở văn hóa Thông tin và các cơ quan tuyên truyền cần vào cuộc để có thể bảo tồn và phát huy bộ môn nghệ thuật ca trù truyền thống làng Đại Phú. Để cái “cơ dinh nghề hát đồ sộ, đại diện cho một thú chơi tao nhã vào bậc nhất của văn nhân Việt Nam” trong những thế kỷ qua được duy trì rất cần có sự tuyên truyền, quảng bá mạnh mẽ và rộng rãi hơn nữa, đặc biệt trong giới trẻ thông qua các buổi trình diễn nghệ thuật ca trù. Bên cạnh đó, cũng cần phải tạo nhiều hơn nữa không khí văn hóa hội hè ở các khu di tích - nơi mà chính bộ môn nghệ thuật này được sinh ra và phát triển - để những người yêu ca trù ở Thượng Mỗ luôn có một sân chơi “nóng”, duy trì và phát triển bền vững bộ môn nghệ thuật ca trù.
Thanh Dung