Theo đó, vùng biển Vịnh Bắc Bộ (các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Bình) có 65 công trình cảng cá, bến cá; vùng biển miền Trung (các tỉnh từ Quảng Trị đến Bình Thuận): có 73 công trình; vùng biển Đông Nam Bộ (các tỉnh từ Bà Rịa – Vũng Tàu đến Cà Mau) có 45 công trình; vùng biển Tây Nam Bộ (các tỉnh từ Cà Mau đến Kiêng Giang) có 28 công trình.
Trong giai đoạn 2009 - 2012 ưu tiên đầu tư xây dựng các cảng cá loại I, các dự án đang đầu tư dở dang, có tính cấp thiết và các cảng cá có thể kết hợp với khu neo đậu tránh trú bão đã hoặc đang xây dựng. Giai đoạn sau 2012 căn cứ tình hình thực tế và nhu cầu phát triển để bổ sung và nâng cấp một số cảng cá có vị trí phù hợp thành cảng cá quốc tế.
Định hướng đến năm 2030, dự kiến lượng hàng hóa các cảng cá ổn định như năm quy hoạch 2020. Các cảng cá, bến cá phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở nâng cấp, mở rộng các cảng cá, bến cá hiện có, tập trung vào các hạng mục dịch vụ hậu cần nghề cá, nhằm hoàn chỉnh đồng bộ hệ thống cảng cá. Quy mô xây dựng các cảng cá loại I có thể đáp ứng cho các tàu cá cỡ lớn đến 1.000 mã lực neo đậu làm hàng.
Tăng cường và tập trung vốn để đầu tư xây dựng, nhất là các cảng cá loại I, quy mô cấp vùng, tại các đảo có vị trí quan trọng, gần ngư trường trọng điểm và có khả năng kết hợp với khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; nhanh chóng hình thành hệ thống cảng cá, bến cá theo quy hoạch, tạo điều kiện thuận lợi cho khai thác thủy sản phát triển và có hiệu quả.
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện ưu đói cho các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cảng cá, bến cá và các công trình phục vụ sản xuất, kinh doanh của cảng cá, bến cá theo quy định của pháp luật.