Quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam: Thực trạng, thách thức và con đường phía trước

Đầu tư CK - 

Quan tri doanh nghiep tai Viet Nam: Thuc trang, thach thuc va con duong phia truoc

(ĐTCK-online) Với sự phát triển của môi trường đầu tư và tài chính toàn cầu ngày nay, để đảm bảo thu hút nguồn vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước một cách hiệu quả, các cơ quan xây dựng luật pháp phải đảm bảo rằng, những quy định về quản trị doanh nghiệp và khuôn khổ pháp lý đã ban hành phải phù hợp với thông lệ quốc tế tốt nhất.

Giới thiệu

Ngày nay, hầu hết quy định và đề xuất thông lệ tốt nhất về quản trị doanh nghiệp của các nước được xây dựng trên cơ sở chính là những bài học từ khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Tại Mỹ, sự sụp đổ của Tập đoàn Enron cuối năm 2001 đã làm nền tảng cho sự ra đời của Đạo luật Sarbanes-Oxley, trong đó quy định những yêu cầu để có được quy trình quản trị doanh nghiệp tốt. Tại châu Âu, các nước cũng đã xây dựng cho mình những quy định tương tự Đạo luật Sarbanes-Oxley của Mỹ, nhưng ở mức độ nới lỏng hơn. Trong khi đó, các nước khu vực Viễn Đông, trên cơ sở các nguyên tắc do Vương quốc Anh ban hành, mỗi nước tự sửa đổi và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kinh tế của nước mình. Cho dù trong trường hợp nào, các quy tắc mới xây dựng đều mang đến một ý nghĩa và xu hướng mới cho công tác quản trị doanh nghiệp.

Phần lớn bài học từ khủng hoảng tài chính tại Mỹ và châu Âu tập trung vào tầm quan trọng của quy trình kiểm soát nội bộ và tác động bất lợi từ những thất bại đã tạo ra cuộc khủng hoảng.

Tuy nhiên, trước tiên phải kể đến các nước khu vực Viễn Đông là những nước có nền kinh tế mới nổi như Thái Lan, Indonesia và rộng hơn nữa là Malaysia đã học được nhiều từ việc cần thiết phải cân đối mức độ nợ nước ngoài, trong cả khu vực kinh tế tư nhân và khu vực công, để trang trải cho các hoạt động phát triển nền kinh tế mới nổi của mình. Điều quan trọng hơn là họ nhận ra được vai trò của thị trường vốn, mà trước đó, đáng nhẽ ra phải được coi là nguồn vốn lý tưởng cho chương trình phát triển kinh tế quốc gia, là công cụ để hạn chế những tác động của khủng hoảng tài chính. Do đó, ngày càng rõ ràng rằng, đối với các nền kinh tế mới nổi, với nhu cầu vốn ngày càng tăng trong tương lai gần, nguồn tài chính duy nhất và bền vững cho các hoạt động phát triển kinh tế chính là thị trường vốn. Nếu không có quá nhiều nợ nước ngoài và tài sản của các tổ chức tài chính không bị tồn đọng trong thị trường vốn và thị trường bất động sản, các nhà hoạch định chính sách kinh tế và tiền tệ có thể kiềm chế tốt hơn những tác động bất lợi của bất kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu nào. Đồng thời, tránh được sự tổn hại đến khả năng thanh toán của các công ty tài chính hoặc sự bất ổn của tỷ giá hối đoái do mất cân đối trong cán cân thanh toán thương mại của quốc gia. Từ định hướng này, các nước khu vực Viễn Đông đã thực hiện nhiều cuộc cải tổ và họ thành công trong việc duy trì tốc độ phát triển kinh tế. Kết quả đó cũng đã được chứng minh qua mức độ tác động không đáng kể của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đến nền kinh tế các nước này và tốc độ phục hồi của họ sau khủng hoảng.

Ông Tom Chong hiện là Phó tổng giám đốc Công ty Ernst & Young Việt Nam, phụ trách khối dịch vụ tư vấn và tư vấn giao dịch tài chính với hơn 30 năm kinh nghiệm hành nghề và quản lý tại Ernst & Young tại nhiều quốc gia và Việt Nam.

Ông Tom Chong là tác giả cuốn sách "Quản trị công ty - Sổ tay hướng dẫn cho các giám đốc Việt Nam" xuất bản năm 2008, được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao. Với kinh nghiệm và sự am hiểu sâu sắc về môi trường kinh doanh quốc tế và Việt Nam, ông Tom Chong đã được nhiều cơ quan chính phủ mời làm diễn giả của nhiều diễn đàn về quản trị doanh nghiệp, quản lý rủi ro, nâng cao tính minh bạch của môi trường đầu tư.

Ông Tom Chong đặc biệt thành công trên cương vị chuyên gia tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp, hoạch định chiến lược tài chính, quản lý rủi ro cho các doanh nghiệp niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán trong nước và trong khu vực.

Với sự phát triển của môi trường đầu tư và tài chính toàn cầu ngày nay, để đảm bảo thu hút nguồn vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước một cách hiệu quả, các cơ quan xây dựng luật pháp phải đảm bảo rằng, những quy định về quản trị doanh nghiệp và khuôn khổ pháp lý đã ban hành phải phù hợp với thông lệ quốc tế tốt nhất. Đồng thời, phải được các chủ thể chủ chốt trong thị trường vốn tuân thủ và đồng thuận, bao gồm tổ chức đầu tư, nhà môi giới chứng khoán, chuyên gia tư vấn và lãnh đạo các tổ chức phát hành chứng khoán. Ngoài ra, trên thế giới, sự cạnh tranh nguồn vốn đầu tư ngày càng tăng, càng khan hiếm hơn nữa trong thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu. Vì vậy, yêu cầu có những quy định chặt chẽ về quản trị có vai trò quan trọng để nâng cao tính cạnh tranh và tính hấp dẫn vốn đầu tư vào nền kinh tế mới nổi như Việt Nam.

Quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam

Tại Việt Nam, cơ sở quy định thực hiện công tác quản trị doanh nghiệp liên quan đến thị trường vốn là Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính và Quyết định số 15/2007/QĐ-TTLK của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK). Trong khi Quyết định 12 quy định cụ thể về các khía cạnh quản trị doanh nghiệp mà các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán phải tuân thủ để đảm bảo doanh nghiệp có một bộ máy quản trị mạnh, minh bạch và độc lập, thì Quyết định 15 quy định về việc thực hiện các quyền của cổ đông và nhà đầu tư trong công ty niêm yết.

Trước khi Quyết định 12 được ban hành, nhiều yêu cầu về quản trị doanh nghiệp đã được quy định trong Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán. Do đó, các văn bản đã bổ sung cho nhau và cùng đưa ra khung pháp lý về công tác quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam.

Do khung pháp lý về quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam được xây dựng trên cơ sở quy tắc, chứ không phải là nguyên tắc, nên không quy định cụ thể tất cả các tình huống có thể xảy ra và khó đánh giá được mức độ tuân thủ trong các vấn đề thuộc về quan điểm của người thực hiện như xung đột lợi ích, tính độc lập, giải trình thông tin. Thêm vào đó, do mang tính quy tắc, các quy định này chủ yếu khuyến khích sự tuân thủ về hình thức, chứ chưa chú trọng đến bản chất. Tuy nhiên, trong thực tế tại nhiều nước khác, thời gian cần thiết để các chủ thể tham gia thị trường vốn đồng thuận về tư tưởng và tuân thủ đầy đủ các quy định về quản trị doanh nghiệp cũng là khá dài.

Trong thời gian qua, kể từ khi Bộ Tài chính ban hành Quyết định 12, UBCK đã có những nỗ lực không ngừng để nâng cao sự tuân thủ trong cộng đồng doanh nghiệp niêm yết và tăng cường chất lượng các quy định pháp lý về quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam. UBCK đã tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị bàn tròn cung cấp diễn đàn thảo luận và trao đổi thông tin về tình hình tuân thủ quy định quản trị doanh nghiệp, nâng cao nhận thức về lợi ích của việc tuân thủ các quy định này cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và nhà đầu tư tham gia trong thị trường vốn. Đồng thời, lắng nghe các ý kiến tham luận về những nội dung cần sửa đổi, bổ sung để tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng các quy định về quản trị doanh nghiệp hiện hành.

Những khó khăn, thách thức và con đường phía trước

Kể từ khi Việt Nam quyết định chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường năm 1986, đến nay quy định về quản trị doanh nghiệp là khá đơn giản nếu so sánh với thông lệ quốc tế tốt nhất. Với việc Chính phủ xem xét tập trung thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, làm động lực phát triển kinh tế và là nguồn huy động tài chính cho các hoạt động phát triển kinh tế tại thị trường vốn trong nước, thì việc tăng cường thực hiện cũng như hoàn thiện khung pháp lý về quản trị doanh nghiệp trong thị trường vốn là nhu cầu cấp bách, hướng đến sự phù hợp với thông lệ quốc tế tốt nhất và các quy định quản trị đã được thừa nhận.

Từ những nhận định trên, chúng tôi đề xuất tóm tắt các nội dung và khía cạnh cần tăng cường hơn nữa trong thời gian tới về vấn đề quản trị doanh nghiệp như sau:

- Quy định rõ ràng và cụ thể các trách nhiệm và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị (HĐQT) và thành viên HĐQT độc lập.

- Quy định về bổ nhiệm và miễn nhiệm HĐQT và các nội dung liên quan đến HĐQT; đặc biệt nhấn mạnh về việc phòng tránh, kiểm soát và báo cáo về các tình huống làm tăng xung đột lợi ích.

- Tiến hành sửa đổi một số nội dung cần thiết trong Luật Doanh nghiệp, cho phép tổng giám đốc của công ty mẹ được bổ nhiệm làm tổng giám đốc của các công ty con của cùng tập đoàn, khi tổng giám đốc công ty mẹ chịu trách nhiệm trực tiếp về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của toàn bộ tập đoàn.

- Quy định rõ ràng hơn quy trình đánh giá kết quả hoạt động của mỗi thành viên HĐQT và tổng giám đốc.

- Quy định việc HĐQT phải thông báo mức độ tuân thủ của công ty niêm yết về các quy định quản trị doanh nghiệp hiện hành và hệ thống kiểm soát nội bộ mà họ đã xây dựng, đảm bảo thực hiện việc tuân thủ đầy đủ các quy định đó.

- Bổ sung quy định yêu cầu HĐQT phải nêu lý do nếu không tuân thủ quy định hiện hành về quản trị doanh nghiệp và các biện pháp đã thực hiện để giảm thiểu rủi ro cho tập đoàn do không tuân thủ quy định.

- Quy định về chế tài xử phạt các trường hợp không tuân thủ quy định tất cả các khía cạnh trọng yếu.

- Bổ sung điều khoản quy định cụ thể về bảo vệ lợi ích của cổ đông thiểu số.

- Bổ sung quy định cụ thể về kiểm toán nội bộ và quy trình quản lý rủi ro.

- Quy định bắt buộc các thành viên HĐQT và nhân sự quản lý chủ chốt tham gia chương trình cập nhật bắt buộc về quản trị doanh nghiệp.

Tiếp nối những đề xuất trên, các chuẩn mực kế toán sẽ ban hành cần phù hợp hơn nữa với thông lệ và chuẩn mực đã được công nhận trên thế giới. Tương tự như vậy, một số điều khoản của Luật Chứng khoán có thể phải được sửa đổi để giúp đảm bảo rằng, chỉ có những doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn về tuân thủ các quy định luật pháp mới được phép niêm yết hoặc tiếp tục niêm yết trên thị trường chứng khoán. Ngoài ra, để tạo điều kiện cho các hoạt động giao dịch của doanh nghiệp và thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường vốn, Nhà nước cần khẩn trương ban hành các quy định phù hợp liên quan đến sáp nhập, mua bán doanh nghiệp.

Tương lai của công tác quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam và sức cạnh tranh của công tác này trong thu hút vốn đầu tư vào Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào phạm vi thay đổi như đã đề xuất ở trên và thực tế thực hiện các quy định đó trong cộng đồng doanh nghiệp.

Tin mới