Quản lý di tích, khi văn bản “chậm chân” so với thực tiễn

Tamnhin.net - 

Quan ly di tich, khi van ban “cham chan” so voi thuc tien

(Tamnhin.net) - Mùa lễ hội sau Tết Tân Mão, bên cạnh những chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” như tệ nạn cờ bạc, buôn thần bán thánh, chặt chém, lộn xộn, ăn xin, ô nhiễm... tại các di tích, vấn đề quản lý di tích được dư luận rất quan tâm. Và một nan đề xuất hiện, đó là các văn bản dưới Luật Di sản văn hóa vẫn còn “chậm chân” so với thực tiễn.

Ban quản lý di tích: tổ chức hay cá nhân?

Theo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi, 2009), di tích được xếp 3 hạng: di tích đặc biệt quốc gia, di tích quốc gia và di tích cấp tỉnh. Theo điều 5, Luật Di sản văn hóa (2001), di sản văn hóa có thể có các hình thức sở hữu toàn dân, tập thể, cộng đồng, tư nhân và các hình thức sở hữu khác. Lâu nay, một số người đã nhầm khi cho rằng đã là di tích quốc gia thì phải thuộc hình thức sở hữu quốc gia.

Điều 33, Luật Di sản văn hóa 2001 quy định di tích quốc gia có thể được giao cho cá nhân quản lý, bảo vệ. Về vấn đề phân cấp quản lý di tích, Thông tư số 3011/VH-TT “Về Phân cấp quản lý bảo quản và tu bổ di tích lịch sử và Văn hóa” của Bộ Văn hóa (nay là Bộ VH – TT & DL) ngày 28/10/1985, quy định Bộ Văn hóa trực tiếp quản lý các di tích đặc biệt quan trọng; các di tích khác đã được Bộ Văn hóa công nhận, giao cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý.

Thông tư 3011 nêu rõ: “Để thực hiện công tác quản lý các di tích đặc biệt quan trọng có tầm cỡ quốc gia, thành lập các Ban quản lý di tích trực thuộc Sở Văn hóa và thông tin các tỉnh và thành phố.

Đối với các di tích lớn thuộc diện quản lý của tỉnh và thành phố, thành lập Tổ chức tương tự. Bộ Văn hóa sẽ có hướng dẫn và quy định cụ thể về vấn đề này. Các Ban quản lý di tích có nhiệm vụ nghiên cứu, bảo vệ, bảo quản, tu bổ và tổ chức phát huy, khai thác di tích”.

Như vậy, theo hướng dẫn của Bộ chủ quản, đối với các di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh, phải thành lập các Ban quản lý di tích. Tuy nhiên, cho đến nay, Bộ chủ quản vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về cơ cấu, thành phần, nguyên tắc hoạt động của Ban quản lý này. Đặc biệt là đối với các di tích thuộc sở hữu tư nhân, hay sở hữu tập thể, dòng họ. Vì vậy, mới xẩy ra tình trạng tự phát, mạnh ai nấy làm mà ví dụ tiêu biểu là chuyện “thầu” di tích quốc gia Đền Chợ Củi tại xã Xuân Hồng, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

Một chuyện khá bi hài là nhiều cán bộ có trách nhiệm quản lý văn hóa nhưng hầu như không nắm được các quy định của nhà nước về quản lý văn hóa. Mặc dù đã hàng chục năm nay, nhà nước có quy định cấm đốt đồ mã tại các lễ hội, di tích, nhưng hầu như cán bộ địa phương đều không biết. Ông Nguyễn Sỹ Quý, người phụ trách đền Chợ Củi cho đến nay vẫn chưa được địa phương phổ biến về quy định này.

Theo quy định của Luật Di sản văn hóa, mỗi di tích được phân thành hai khu vực bảo vệ, mỗi khu vực phải được cắm mốc, trong đó, khu vực I gắn liền với di tích gốc phải được giữ nguyên trạng. Thế nhưng tại di tích đền Chợ Củi, người ta làm hàng quán kiên cố, làm nhà ở ngay sát cổng di tích, coi như đất của mình mà không hề bị ai nhắc nhở, đình chỉ.

Quản lý tiền công đức, chờ đến bao giờ?

Chuyện đặt các hòm công đức, quản lý, chi tiêu tiền công đức như thế nào đang là một vấn đề nan giải. Cho đến nay, vẫn chưa có một hướng dẫn cụ thể nào từ phía Bộ VH – TT & DL, mặc dù Bộ này đã hứa nhiều lần.

Điều 61 Luật Di sản văn hóa quy định: “Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa”.

Điều 62 Luật này quy định: “Nguồn tài chính dành cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”.

Vì chưa có hướng dẫn cụ thể của nhà quản lý, nên các ban quản lý (BQL) di tích mỗi nơi làm một kiểu. Để tận thu nguồn công đức, không ít BQL đã đặt rất nhiều hòm công đức ở nhiều nơi, với nhiều chất liệu, kích cỡ khác nhau: bằng nhôm kính, bằng sắt, gỗ, hoặc “chơi” luôn cả két sắt, hoặc đơn giản chỉ là một cái hộp hình tròn như cái nồi. Bên cạnh đó lại có những bàn ghi công đức, phát phiếu ghi nhận công đức. Ngoài ra, khách còn nhét tiền vào tay tượng, bát hương, để lên mâm đồ lễ, rải ra khắp nơi trong ao hồ, cây cảnh…BQL tổ chức thu nhặt, rồi cũng gom vào quỹ công đức.

Trước thực trạng “loạn” hòm công đức, Bộ trưởng Bộ VH – TT & DL Hoàng Tuấn Anh đã kiên quyết yêu cầu các địa phương chỉ đặt tối đa ba hòm công đức tại mỗi di tích (Tiền phong, 12/7/2010). Tuy nhiên, vì chưa có chế tài cụ thể, nên tình trạng “loạn” hòm công đức và hình thức công đức vẫn tồn tại.

Hiện nay, một số di tích thu được số tiền công đức hàng năm lên tới nhiều tỷ đồng. Đền Bà Hải (Kỳ Ninh, Kỳ Anh, Hà Tĩnh), mỗi năm thu được tiền công đức khoảng 3 tỷ đồng. Lễ hội Đền Trần mỗi năm thu khoảng 8 tỷ đồng, trong đó có 3 – 5 tỷ tiền công đức. Trong khi đó, một số di tích khác lại hầu như không thu được tiền công đức.

Tràn lan hòm công đức

Vậy quản lý, sử dụng số tiền này như thế nào?

Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT, ngày 24/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin “Phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020” nêu quan điểm: “Nguồn thu qua khai thác di tích bao gồm tiền bán vé tham quan di tích, tiền công đức, tiền thu qua các hoạt động dịch vụ của di tích, kiến nghị Nhà nước để lại 100% cho đầu tư tu bổ và tôn tạo di tích”.

Từ năm 1998, Nghệ An đã có quy định tiền công đức được kiểm đếm công khai, thu về một mối tại kho bạc do chính quyền các cấp quản lý, từ đó sẽ phân bổ cho các di tích tùy theo nhu cầu tu bổ tôn tạo, bảo vệ.

Năm 1999, tỉnh Phú Thọ cũng ban hành quy định quản lý quỹ công đức tại di tích Đền Hùng. Theo đó toàn bộ tiền công đức nộp về kho bạc của tỉnh, phục vụ cho việc quản lý, tôn tạo, tu bổ Đền Hùng.

Việc UBND xã Xuân Hồng (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) cho cá nhân “thầu” di tích Đền Chợ Củi, mỗi năm nộp vào ngân sách xã khoảng 300 đến 400 triệu đồng là trái với Luật Di sản văn hóa.

Điều 58 Luật Di sản văn hóa năm 2001 nêu rõ: “Nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa bao gồm:

1. Ngân sách nhà nước.

2. Các khoản thu từ hoạt động sử dụng và phát huy giá trị di sản văn hóa.

3. Tài trợ và đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài”.

Như vậy, về nguyên tắc, tiền công đức của các di tích phải được sử dụng vào mục đích bảo vệ và phát huy giá trị di tích, chính quyền địa phương không thể tơ hào vào đó.

Mới đây, trên báo chí có một tình huống gây tranh luận là tài sản hơn 140 nghìn USD đứng tên một ni sư nay đã viên tịch thuộc về ai. Một luật sư dẫn Luật Dân sự nói đó là tài sản thuộc quyền sở hữu của ni sư, vì tài khoản do cá nhân ni sư đứng tên.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng tài sản đó là do tiền công đức, cúng dường của người dân và Phật tử, nên phải thuộc về nhà chùa, còn ni sư chỉ là người đại diện. Theo Luật Di sản văn hóa, số tiền công đức của người dân tại các di sản phải được sử dụng vào mục đích bảo vệ và phát huy giá trị di sản. Do đó, nếu xác minh được đó là số tiền từ nguồn công đức, thì đương nhiên thuộc quyền sở hữu của nhà chùa.

Tuy nhiên, một thực tế là có một số di tích thu được số tiền công đức rất lớn, vượt quá nhu cầu tu bổ, tôn tạo của di tích đó. Vì chưa có quy định cụ thể, nên một số cá nhân đã lợi dụng kẻ hở và giàu lên một cách nhanh chóng.

Việc một số người sử dụng tiền công đức để phục vụ mua sắm, chi tiêu cá nhân là hoàn toàn sai trái.

Một số BQL di tích đã trích tiền công đức để xây dựng các công trình xã hội, từ thiện như nhà trẻ, trường học, trạm xá, đường sá, tặng quà…được dư luận hoan nghênh. Mặc dù đây là việc rất tốt cho cộng đồng, nhưng cũng không đúng với tinh thần của Luật Di sản văn hóa.

Vì vậy, đã đến lúc Bộ VH – TT & DL cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng tiền công đức tại các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, bảo đảm công khai, dân chủ, công bằng, chấm dứt tình trạng mạnh ai nấy làm như hiện nay, chấn chỉnh một số hành vi thiếu văn minh trong việc công đức tại các di tích.

Trần Quang Đại

Tin mới