Phiên chợ Ó và câu chuyện xã hội hóa... quan họ

Xem tin gốc 

QĐND - 29 tháng trước 63 lượt xem

Phien cho O va cau chuyen xa hoi hoa... quan ho

Xã hội hóa sân khấu đã phát huy hiệu quả tích cực. Tại sao chúng ta không cùng nhau “xã hội hóa” bảo tồn và phát huy một loại hình nghệ thuật đã được UNESCO tôn vinh, là dân ca quan họ?

Chúng ta có nhiều đoàn quan họ, nhiều đơn vị nghệ thuật có thể trình diễn quan họ nhưng sân khấu hóa nó khác với quan họ chính tông. Nếu chỉ trông chờ vào các đơn vị này thì dân ca quan họ Việt Nam chưa chắc được UNESCO tôn vinh là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”. Phải kể tới: Quan họ làng, quan họ dân gian, quan họ cửa đình, quan họ cửa chùa... cùng hàng trăm hình thức diễn xướng khác.

Tôi vừa được dự một buổi công diễn giới thiệu tam nghiệp Phật giáo trong quan họ. Buổi trình diễn này do 40 nghệ sĩ “quan họ làng” đến từ trung tâm UNESCO văn hóa quan họ. Quan họ Phật giáo là một trong 9 chủ đề lớn thường gặp trong quan họ cổ (gồm: Phật giáo, chơi tìm, buôn bán, sản xuất, hệ sông nước, tri âm tri kỷ, thủy chung son sắt, dãi tấm lòng son, tài tử quan họ). Bà Thanh Ngân, giám đốc Trung tâm UNESCO văn hóa quan họ cho biết, để thống kê được các bài quan họ có liên quan đến Phật giáo, bà cùng cộng sự đã khảo sát trên khoảng 700 bài quan họ cổ với khoảng 150 làn điệu. Bà nói: “Quan họ Phật giáo cổ hình thành từ “đạo tâm” và “tam nghiệp” của kinh pháp Phật giáo. Nội dung ngôn từ, lời bài hát được chuyển hóa từ kinh Phật tìm được khá nhiều”.

“Tam nghiệp” của đạo Phật bao gồm thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp. Ngụ ý dạy con người ta hiền hòa, lễ độ, giữ đức tin, làm việc thiện... Trong văn hóa quan họ cũng có chuyện dạy người như vậy. Và thú vị nhất là quan họ có thể trình bày các hiện tượng mà thuyết tam nghiệp của đạo Phật đề cập qua việc diễn xướng trên sân khấu. Tất cả gói gọn trong hoạt cảnh “Lễ hội âm dương”, một hoạt cảnh rất hiếm của văn hóa quan họ.

“Lễ hội âm dương” diễn ra ở phiên chợ Ó của làng Ó tỉnh Bắc Ninh (làng Ó có tên chữ là Xuân Ổ). Chợ Ó mỗi năm chỉ một phiên vào đúng giữa đêm mồng 4 Tết. Phiên chợ Ó được dân gian tin rằng là nơi người sống có thể gặp gỡ người đã chết. Thế nên phiên chợ Ó người dân chỉ bán gà đen và đèn, nhang, vàng, mã. Phiên chợ Ó được đưa lên “sân khấu” quan họ được gọi là “Lễ hội âm dương”. (Phải đóng ngoặc kép hai từ “sân khấu” vì thực ra chẳng có sân khấu nào cả, người dân cứ vừa mua bán, chào hỏi vừa hát ngay trên đất chợ).

Trong “Lễ hội âm dương”, các liền anh liền chị đi từ đầu chợ đến cuối chợ, gặp ai cũng hỏi, cũng chào với tác phong lễ độ, thành kính. Gặp gỡ người đã khuất được coi là thân nghiệp, tạ ơn, xóa oán. Lời chào tiếng hát là khẩu nghiệp, giúp cho con người ta ăn nói lịch sự, lễ phép. Sự thành kính được coi là thân nghiệp, vì gặp gỡ nhau được coi như duyên lành, phúc ấm. Hoạt cảnh có màu sắc tín ngưỡng nhưng không sa vào dị đoan. Hoạt cảnh này vốn thất truyền đã lâu, nhưng được trung tâm UNESCO văn hóa quan họ khảo cứu và phục dựng lại được. Hoạt cảnh này sẽ làm phong phú thêm cho kho tàng di sản đồ sộ của văn hóa quan họ.

Trở lại với câu chuyện xã hội hóa. Chúng tôi được biết 40 “nghệ sĩ làng” góp mỗi người 400 ngàn đồng. Tất thảy được 16 triệu đồng. Chi phí đi lại, tổ chức, thuê sàn diễn tại rạp Hồng Hà (Hà Nội) bị hụt mất 3 triệu đồng. Mọi người chắc phải đóng góp đợt 2 để trang trải số tiền còn nợ. Tôi phải cúi đầu thán phục lòng đam mê của các “liền anh”, “liền chị” này. “Liền chị” Nguyễn Thị Tích, năm nay 70 tuổi, đưa cả cháu nội, cùng con dâu đi diễn. Ba người diễn “công quả” đã không có mà còn phải đóng góp 1,2 triệu đồng. Một triệu hai trăm ngàn đồng là quá lớn cho đam mê của một gia đình thuần nông.

Tôi gặp họa sĩ Trịnh Yên, Ủy viên thường vụ Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam, ông cho biết: “Nếu kinh phí chỉ trông chờ vào Liên hiệp các hội UNESCO thì chúng ta không thể làm được gì. Thứ duy nhất mà Liên hiệp có thể làm cho các hội là bảo trợ về mặt pháp nhân. Các hội phải tự hoạt động, tự lo kinh phí, tự công bố thành quả nghiên cứu”. Được biết, dưới sự quản lý của Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam có khoảng 100 hội hoạt động trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, nghệ thuật... tuy nhiên sự hỗ trợ của các hội cho nhau là chưa có, và nếu có thì chỉ là đơn lẻ, “song phương” giữa một vài hội.

Điều đáng mừng là những “nghệ sĩ làng” của chúng ta không đặt cao “lợi ích kinh tế”. Nhiều người đóng tiền để được đi diễn. Một “liền chị” nói: “Diễn cho người khác xem, để thêm hiểu, thêm yêu quan họ vậy là chúng em vui rồi”. Tôi nghĩ, những niềm vui như thế không biết bao giờ sẽ tắt. Tôi nghĩ vậy không phải do tôi không tin vào họ. Nhưng làm sao để niềm vui trọn vẹn và kéo dài... khi mỗi lần những “nghệ sĩ làng” đi phục vụ cộng đồng họ lại phải bỏ tiền túi ra? Một số tiền không nhỏ cho những người nông dân chân lấm tay bùn. Tôi cho rằng người lãnh đạo trung tâm nên lập ra một quỹ hỗ trợ phát triển văn hóa quan họ để những người yêu mến tiếng hát quan họ, trân trọng việc làm của trung tâm có thể hỗ trợ thêm cho các “nghệ sĩ làng”. Cách làm đó giúp các nghệ sĩ bớt khó khăn khi theo đuổi đam mê, đồng thời giúp người yêu mến câu ca quan họ được nghe nhiều hơn. Quả là lợi đôi đường.

Bài và ảnh: ĐÔNG HÀ

Từ khóa liên quan

Danh từ
Tổ chức
Động từ
Cụm từ
Từ chuyên môn
Danh từ riêng
Địa danh trong nước

Tin đọc nhiều

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang