Phát triển nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long thế nào cho bền vững?

Nhân dân - 25/11/2010 02:55

Phat trien nong nghiep o dong bang song Cuu Long the nao cho ben vung?

Thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long.

Thành tựu bước đầu

ĐBSCL là vùng đất màu mỡ, mưa nắng thuận hòa, thích hợp không chỉ với cây lúa mà còn nhiều loại cây ăn quả nhiệt đới khác. Có mạng lưới giao thông thủy, bộ thuận tiện, là vùng sản xuất hàng hóa lớn, đồng thời là địa bàn trung chuyển, giao lưu hàng hóa giữa TP Hồ Chí Minh với các tỉnh khác trong vùng. Hàng trăm nghìn ha đất phù sa, mặt nước, bãi bồi và hàng trăm km bờ biển được các tỉnh phát triển toàn diện cả trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Trong sản xuất nông nghiệp, cây lúa chiếm vị trí hàng đầu ĐBSCL. Tại Long An, diện tích gieo trồng lúa năm 2010 đạt 471 nghìn ha, năng suất bình quân gần 5 tấn/ha/vụ, sản lượng lương thực đạt hơn 2,3 triệu tấn. Cùng với cây lúa, các loại cây khác, như mía, đậu phộng, rau, đậu các loại,... cũng được gieo trồng tập trung tại những vùng chuyên canh hàng hóa. Riêng cây mía, với diện tích gần 13 nghìn ha, sản lượng hằng năm đạt gần 900 nghìn tấn. Sản lượng thanh long gần 40 nghìn tấn/năm, chanh quả gần 100 nghìn tấn/năm... Tại Tiền Giang, diện tích gieo sạ lúa hằng năm từ 230 nghìn đến 235 nghìn ha, sản lượng lương thực nhiều năm nay luôn giữ mức ổn định từ 1,2 đến 1,3 triệu tấn/năm. Ngoài cây lúa, Tiền Giang còn phát triển mạnh cây ăn quả, cả về diện tích, chủng loại. Năm 1990, cả tỉnh chỉ có 24 nghìn 500 ha thì đến năm 2010, diện tích trồng cây ăn quả đã lên đến gần 70 nghìn ha, mỗi năm cho thu hoạch gần một triệu tấn quả các loại.

Khó khăn, thách thức

Trong những năm gần đây, tại các tỉnh ĐBSCL ngành nông nghiệp và nông dân luôn bức xúc vì giá vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp không ổn định, biến động tăng cao ở các vụ mùa. Bên cạnh đó, tình trạng 'được mùa mất giá' xảy ra hằng năm làm ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập, đời sống của nông dân. Phần lớn nông dân Nam Bộ bán lúa tươi cho thương lái tại ruộng ngay sau khi thu hoạch. Thói quen tích trữ lúa của nông dân hầu như không còn. Nhiều hộ nông dân ở Tiền Giang, Long An, Đồng Tháp, An Giang... thậm chí bán hết lúa, rồi mua gạo ăn từng ngày. Hình ảnh những chiếc máy xay xát lưu động xay lúa cho bà con trong các xóm ấp ngày nào giờ không còn. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Dư, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tình trạng nông dân bán lúa tươi tại ruộng có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là áp lực phải trả nợ mua chịu phân bón, thuốc bảo vệ thực vật... trong cả mùa vụ. Mặt khác, diện tích ruộng bình quân của mỗi hộ nông dân không nhiều, chỉ từ 5.000 đến 7.000 m2. Ngoài ra, thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra cũng là những khó khăn lớn trong sản xuất nông nghiệp của toàn vùng. Tại tỉnh Bến Tre, tuy hệ thống thủy lợi đã được quan tâm đầu tư, nhưng nhìn chung vẫn chưa đồng bộ, tiến độ thi công một số công trình chậm, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, việc cung ứng giống chất lượng cao, nhất là giống cho nuôi thủy sản thâm canh, vẫn chưa đáp ứng đủ. Tình trạng phát triển tự phát, không theo quy hoạch khá phổ biến, nông dân chưa chú trọng bảo vệ môi trường.

Việc sản xuất cây ăn quả ở ĐBSCL cũng trong hoàn cảnh tương tự. Tại Tiền Giang, vùng sản xuất trái cây lớn nhất Nam Bộ, nhà vườn, khi thu hoạch, dù sản lượng lớn cũng chỉ có phuơng tiện hết sức thô sơ, phần nhiều là trèo lên cây, hái quả. Phân loại chất lượng cũng theo kinh nghiệm, cảm tính. Phương tiện, thu hái vận chuyển đến nay vẫn không có gì khác ngoài cây cù nèo và những giỏ cần xé. Về tiêu thụ, dù đã có một số hợp tác xã (HTX) hoặc một vài doanh nghiệp ký kết hợp đồng tiêu thụ với nông dân, nhưng số lượng không nhiều cho nên hầu hết trái cây trong vùng đều tiêu thụ thông qua các chợ đầu mối. Trong thanh toán, các nhà vườn đều chung một phương thức giao hàng xong, nhận tiền mặt. Những điều trên cho thấy, nhìn chung người sản xuất (nhà vườn) vẫn đơn độc và sản phẩm của họ làm ra luôn bấp bênh theo thị trường. Trái cây là loại sản phẩm thu hoạch theo mùa, rộ lên dăm bữa, nửa tháng là xong. Lợi dụng đặc điểm này, không ít thương lái ép giá nhà vườn khiến tình trạng 'được mùa rớt giá' liên tục tái diễn. Ông Võ Văn Tâm, một chủ vườn ở xã Hữu Đạo, huyện Châu Thành (Tiền Giang) cho biết: 'Đầu vụ, vú sữa Lò Rèn có giá hơn 400 nghìn đồng/chục (12 quả). Khi vào chính vụ chỉ còn trên dưới 100 nghìn đồng/chục'. Hoặc như quả thanh long, giá lúc lên cao 12 nghìn đồng/kg, nhưng khi xuống thấp chỉ còn vài nghìn đồng/kg. Không có nơi tiêu thụ ổn định, nhà vườn luôn là người chịu thiệt. Thậm chí, nhiều loại trái cây đặc sản đã khẳng định thương hiệu, có HTX tiêu thụ nhưng cũng phải chờ thương lái đến mua.

Thời gian qua, một số HTX sản xuất, tiêu thụ trái cây đã xây dựng vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản. Thế nhưng đến nay, nhìn chung các HTX vẫn đang loay hoay tìm đầu ra cho sản phẩm. HTX Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim là một thí dụ. Từ lâu, thương hiệu Vú sữa Lò Rèn được người tiêu dùng trong nước và ngoài nước biết đến. Năm 2008, gần bảy ha vú sữa Lò Rèn trong HTX được chứng nhận GlobalGAP (chứng nhận quy trình sản xuất an toàn toàn cầu), năm 2010 mở rộng đạt 50 ha nhưng vú sữa Lò Rèn tiêu thụ vẫn khó khăn, nhiều sản phẩm bán trôi nổi trên thị trường. Chủ nhiệm HTX Nguyễn Văn Ngàn, bức xúc: 'Vụ vú sữa vừa qua, HTX chỉ tiêu thụ được vài tấn, trong khi sản lượng đạt tiêu chuẩn GlobalGAP hơn 150 tấn'. Hoặc như HTX thanh long Chợ Gạo, cũng có nhiều doanh nghiệp đến tìm hiểu nhưng không ký được hợp đồng tiêu thụ nào, xã viên đành bán cho thương lái. Xoài cát Hòa Lộc, sản phảm có thương hiệu cũng rơi vào tình trạng như thế.

Để xảy ra tình trạng trên, trước hết là do các doanh nghiệp kinh doanh, xuất khẩu nông sản chưa thật sự gắn bó với nông dân, với vùng nguyên liệu. Quy mô sản xuất, khả năng cạnh tranh, còn khiêm tốn. Các công ty và doanh nghiệp thu mua, chế biến rau quả còn ít. Toàn vùng ĐBSCL chỉ có bảy công ty và doanh nghiệp lớn thu mua chế biến rau quả, khó tiêu thụ hết lượng trái cây khi vụ thu hoạch rộ.

Để khắc phục tình trạng trên, ngành nông nghiệp tỉnh Tiền Giang đang định hướng phát triển sản xuất gắn với thị trường, hình thành ổn định các vùng nguyên liệu, phấn đấu đến năm 2015 có 90 nghìn ha cây đặc sản đạt sản luợng 900 nghìn tấn; và đạt 100 nghìn ha, sản lượng một triệu tấn vào năm 2020. Cùng với tăng diện tích là tổ chức lại sản xuất theo hình thức doanh nghiệp cổ phần, HTX, đưa nhanh quy trình GAP (quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt) vào sản xuất rau, quả, có sự tham gia của các doanh nghiệp.

Trong chiến lược phát triển nông nghiệp, trước mắt tỉnh Bến Tre tập trung hoàn chỉnh quy hoạch ngành nông nghiệp. Theo đó, về trồng trọt, tập trung xây dựng mô hình canh tác kỹ thuật cao, đưa Chợ Lách trở thành trung tâm cung ứng giống cây ăn trái chất lượng cao cho thị trường trong tỉnh và ngoài tỉnh. Xây dựng vùng chuyên canh hoa, cây cảnh tại Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc, quy hoạch 40 nghìn ha vùng nuôi thủy sản chuyên canh; phấn đấu đưa diện tích trồng dừa, dừa xen ca-cao đến năm 2015 đạt 20 nghìn ha...

Liên kết 'bốn nhà' để phát triển bền vững

Những năm gần đây, Chương trình 'Liên kết bốn nhà' được nhiều đơn vị, địa phương áp dụng thành công, cho hiệu quả sản xuất, kinh doanh cao. Từ vụ đông xuân 2006, Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS) triển khai Chuơng trình 'Cùng nông dân ra đồng' tại nhiều tỉnh ĐBSCL. Không chỉ cung ứng vật tư nông nghiệp, AGPPS cử những kỹ sư nông nghiệp trẻ, tâm huyết về nông thôn, bám trụ cùng nông dân, hướng dẫn bà con thực hiện nhiều quy trình canh tác tiến bộ như 'ba giảm, ba tăng', 'bốn đúng, bốn đủ', bón phân theo bảng màu lá lúa..., và mới nhất là quy trình 'một phải năm giảm'. Theo đó, nông dân phải dùng giống lúa xác định nguồn gốc, thuần chủng, bảo đảm chất lượng (một phải). 'Năm giảm' là giảm giống, giảm nước (theo từng thời điểm), giảm phân bón, giảm thuốc bảo vệ thực vật trong suốt quá trình canh tác và giảm thất thoát sau thu hoạch. Với quy trình này, ngoài việc giảm lượng thóc giống tới gần 50%, các loại vật tư nông nghiệp khác như phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới cũng giảm từ 20 đến 30% so với trước, trong khi năng suất lại tăng thêm từ 15 đến 20%. Giảm chi phí, tăng năng suất, lợi nhuận thu về của nông dân tăng rõ rệt. Tại ấp Hương Trang, xã Bình Hòa Trung, huyện Mộc Hóa (tỉnh Long An) là vùng thực hiện liên kết 'bốn nhà'. Sau vụ đông xuân 2009 - 2010, nông dân Võ Công Tấn cho biết, với diện tích 4,5 ha, sản lượng 40 tấn, trừ hết chi phí còn lãi gần 67 triệu đồng. Một điển hình khác của Chương trình 'Liên kết bốn nhà' là tại ấp Cầu Tre, xã Phú Cần, huyện Tiểu Cần (Trà Vinh). Nông dân trong ấp phần lớn là đồng bào dân tộc Khmer, tập quán canh tác lạc hậu, năng suất cao nhất cũng chỉ đạt 3,5 tấn/ha, lại thường xuyên mất mùa do thiên tai, dịch bệnh... Vụ hè thu năm 2007, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh phối hợp Chi cục Bảo vệ thực vật, UBND huyện Tiểu Cần, UBND xã Phú Cần và AGPPS triển khai Chương trình 'Cùng nông dân ra đồng'. Ngay vụ thu hoạch đầu tiên, cánh đồng 110 ha của mô hình đã cho thấy hiệu quả vượt trội, năng suất đạt 5,8 tấn/ha, lợi nhuận thu về trên một ha diện tích cao hơn so trước 5,3 triệu đồng. Đến nay, qua 10 vụ sản xuất, sản lượng thóc tăng thêm so với trước hơn 803 tấn, lợi nhuận của nông dân tăng thêm 5 tỷ 460 triệu đồng. Số hộ nghèo trong ấp giảm mỗi năm 34%, nhiều hộ nông dân vươn lên thành hộ giàu. Giám đốc AGPPS Huỳnh Văn Thòn cho biết, tính đến nay, toàn vùng đã có gần 1.500 điểm, 45 mô hình 'Liên kết bốn nhà'. Mô hình 'Cùng nông dân ra đồng' đã thu hút 3.000 hộ nông dân tham gia trên diện tích hơn 3.200 ha. Việc xây dựng thành công mô hình liên kết 'bốn nhà' của AGPPS đã mở hướng đi mới cho nhiều vùng chuyên canh nông sản ở ĐBSCL.

Dù còn nhiều khó khăn, thách thức phải vượt qua, nhưng với tinh thần và quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước, sự đồng thuận, nỗ lực của chính người nông dân, nông nghiệp ĐBSCL đang ngày càng phát triển theo hướng bền vững, góp phần thúc đẩy CNH, HĐH đất nước.

Tin mới