Phát triển nông nghiệp, nông thôn: Những thách thức từ thực tế

Phat trien nong nghiep, nong thon: Nhung thach thuc tu thuc te

(TBKTSG) - Không “nóng” như Vinashin, không bức bối như khai thác bauxite ở Tây Nguyên nhưng thực trạng phát triển nông nghiệp, nông thôn còn quá nhiều bất cập trong thời gian qua đã được các đại biểu Quốc hội đề cập như một “căn bệnh âm ỉ” kéo dài từ nhiều năm mà vẫn chưa có giải pháp.

Ban Mai

Nông dân thu hoạch cá nuôi ở ĐBSCL. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ.

>> Giải quyết mâu thuẫn giữa nông thôn và thành thị

>> Công ty cổ phần nông nghiệp

Những thực trạng báo động

Nhiều đại biểu Quốc hội bày tỏ sự âu lo với tình hình phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Nhiều năm qua, Việt Nam đã trở thành cường quốc trong lĩnh vực xuất khẩu gạo, cà phê, thủy hải sản. Nhưng người làm nông nghiệp vẫn đối mặt với nhiều khó khăn vất vả, họ vẫn thuộc nhóm người nghèo nhất của xã hội. Nông dân đang nảy sinh tâm lý chán ruộng vì thu nhập quá thấp, việc làm của thanh niên nông thôn đang là một bài toán nan giải.

• Ruộng đất manh mún - diện tích đất nông nghiệp giảm

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên. Những bất cập lớn mà các đại biểu Quốc hội chỉ ra là, hiện ruộng đất cho canh tác đã quá manh mún, đất nông nghiệp ngày càng bị teo tóp. Theo đại biểu Nguyễn Hữu Nhị, tỉnh Nghệ An, hiện cả nước có đến 70 triệu thửa đất nông nghiệp, nhưng chưa đến 4 triệu héc ta đất trồng lúa. Đất ít, manh mún đang chứng tỏ một nền kinh tế tiểu nông. Đất canh tác đang ngày một loang lổ vì sự xâm lấn của sân golf, khu công nghiệp.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bình quân mỗi năm có 73.300 héc ta đất nông nghiệp bị thu hồi, ảnh hưởng đến khoảng 2,5 triệu người. Hai vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc là nơi bị thu hồi đất nhiều nhất. Trong năm năm qua, diện tích đất nông nghiệp thu hồi trên toàn quốc lên tới hơn 154.000 héc ta, đồng nghĩa việc diện tích đất trồng lúa giảm 7,6%. “Chính sách đất đai cho nông nghiệp của chúng ta còn quá nhiều bất cập, chậm được sửa đổi”, ông Nhị nói, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc tổng vốn đầu tư vào nông nghiệp nhiều năm qua vẫn ở mức thấp.

• Đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn giảm dần

Báo cáo của Chính phủ có nêu đầu tư cho nông nghiệp nông thôn chưa tương xứng. Đại biểu Nguyễn Đăng Vang, tỉnh Bình Định, cho rằng dù đã chỉ ra được vấn đề này, nhưng báo cáo chưa đưa ra con số cụ thể để cho thấy mức độ đáng báo động của vấn đề. Vốn đầu tư cho nông nghiệp-nông thôn giảm dần theo từng năm. Đầu tư cho nông nghiệp năm 2009 chỉ bằng 6,26% tổng đầu tư toàn xã hội (trong khi GDP của ngành này là 20,91%). Trước đó, vào các năm 2008, 2005, và 2000 thì tỷ trọng đầu tư của ngành này tương ứng từng năm là 6,45%, 7,50%, và 13,85%,

“Tôi e rằng năm 2011 sẽ còn giảm nữa và nếu như vậy sẽ tác động không tốt đối với ngành nông nghiệp”, ông Vang nói. Cũng theo đại biểu này, vốn đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp trong năm 2008 chỉ chiếm 0,32% trong tổng đầu tư FDI của cả nước. Năm 2009, tỷ lệ này chỉ ở mức 0,58%. Giai đoạn từ năm 1988-2009, trong 21 năm, vốn FDI đầu tư cho ngành nông nghiệp cũng chỉ chiếm tỷ lệ 2,3%, dù giai đoạn này nông nghiệp chiếm đến 27,7% GDP. “Lĩnh vực nông nghiệp không hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài, cũng không hấp dẫn nhà đầu tư trong nước. Quan trọng hơn, lĩnh vực này cũng không hấp dẫn các nhà hoạch định chính sách”. Ông Vang cho rằng, đây là vấn đề đáng lo ngại.

Đồng tình với ý kiến trên, đại biểu Trần Ngọc Vinh, Hải Phòng, bổ sung thêm: “Những chính sách ban hành vẫn chưa ưu tiên cho nông dân, một số chính sách thường thiên về tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp. Chính phủ cần triển khai đồng bộ các chính sách để điều tiết tốt hơn, tạo sự cân bằng ổn định cho nông nghiệp, nông thôn”. Một vấn đề nhức nhối khác mà đại biểu Nguyễn Danh, tỉnh Gia Lai chỉ ra là, khu vực nông thôn còn chịu quá nhiều thiệt thòi, nhiều rủi ro và bị ảnh hưởng thiên tai hàng năm. Lao động qua đào tạo ở nông thôn chỉ chiếm trên dưới 10% so với 25% ở khu vực thành thị. Trình độ học vấn thấp hơn hai lần, nhân lực thấp hơn 10 lần, năng suất lao động nông nghiệp thấp, trên 80% hộ nghèo sống ở nông thôn... là những khó khăn cho phát triển.

Giải pháp nào để vực dậy nông thôn?

• Tăng đầu tư, lập vùng chuyên canh nông nghiệp

Cần đẩy mạnh đầu tư cho nông nghiệp để thúc đẩy sự phát triển ổn định lâu dài cho khu vực nông thôn là vấn đề ưu tiên hàng đầu hiện nay. Ông Nguyễn Đăng Vang dẫn chứng, ở Hàn Quốc, chi phí khuyến nông đầu tư cho 1 héc ta làm nông nghiệp là 850 đô la Mỹ. Hiện ở Việt Nam, mức đầu tư này chỉ 1 đô la Mỹ/héc ta, bằng 1/850 lần so với Hàn Quốc. Giải quyết tình trạng này, trong năm 2011, Chính phủ không nên tiếp tục giảm tỷ lệ đầu tư vào nông nghiệp. “Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn không nên lệ thuộc vào ý chí của một người mà lệ thuộc vào phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế nhất”, ông Vang nhấn mạnh.

Để thiết lập được vùng chuyên canh trong nông nghiệp với số lượng hàng hóa lớn, chất lượng ổn định, nông dân phải tích tụ được đất đai canh tác. Nhưng thực tế, việc tích tụ đất đai cũng đang gặp nhiều bất cập. Với hạn mức giao đất nông nghiệp tối đa là 3 héc ta/hộ, Việt Nam có trên 9 triệu héc ta đất nông nghiệp cho hơn 12 triệu hộ làm nông nghiệp. Nếu một hộ có 3 héc ta, thì sẽ có hộ không có đất đai. Kinh nghiệm từ Đài Loan, nhà nước mua đất để cho nông dân mượn đất canh tác. Nông dân được hỗ trợ tích tụ bằng công nghệ, chế biến sâu các sản phẩm, hình thành vùng thương mại hàng hóa với quy mô lớn. Điều này sẽ tạo ra nhiều lợi nhuận cho nông dân hơn là tích tụ quyền sở hữu ruộng đất.

• Đầu tư vào con người

Về vấn đề lao động, đại biểu Ngô Tự Nam, tỉnh Đồng Tháp, cho rằng: “Đây là nhu cầu cấp thiết để phát triển nông nghiệp và nông thôn”. Ông Nam đề nghị, Nhà nước nên tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn. Hỗ trợ tạo việc làm và phát triển thị trường lao động giai đoạn 2011-2015, đặc biệt ở khu vực nông thôn nhằm giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống 40% lao động xã hội vào năm 2015, và giảm tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn.

Dự toán ngân sách nhà nước năm 2011 đã bố trí 1.000 tỉ đồng cho dạy nghề lao động ở nông thôn. Báo cáo của Chính phủ có đề nghị cân đối tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2015 cho thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trong đó có chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm. Chính phủ cần xem xét nâng tỷ lệ này lên tối thiểu là 4% cho việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó có chương trình quốc gia về việc làm.

• Đầu tư hiệu quả và phù hợp với thực tế

Chính phủ cũng cần xem xét lại các tiêu chí phân bổ đầu tư phát triển. Những tiêu chí không thể chung cho các địa bàn, mà phải chú ý đặc điểm vùng, miền và tình trạng phát triển của từng địa phương. “Miền núi không lấy đâu ra diện tích lúa như đồng bằng để đạt điểm số cao, để có lợi trong phân bổ vốn đầu tư”, đại biểu Nguyễn Danh, Gia Lai, nói.

Cần tiếp tục công nghiệp hóa nông nghiệp, đại biểu Nguyễn Ngọc Hòa, TPHCM đề xuất. Thực tế, trong năm 2008-2009, dù kinh tế lâm vào khủng hoảng, nhưng nông nghiệp vẫn phát triển ổn định. “Thực tế phát triển nông nghiệp trong thời gian qua, chỉ cần chọn một khâu đột phá để đầu tư cho nông nghiệp, sẽ tạo ra một bước chuyển lớn”. Ông Hòa dẫn chứng, ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nếu đầu tư tốt cho công nghệ sau thu hoạch sẽ giảm thất thoát trong quá trình tồn trữ từ 10-20%, tương đương với nửa triệu tấn gạo xuất khẩu (so với sản lượng gạo mà Việt Nam xuất khẩu khoảng 5-5,5 triệu tấn).

Để nông dân an tâm canh tác trên mảnh đất của mình, Nhà nước cũng cần sớm hoàn thành việc quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, bao gồm cả việc quy hoạch vùng nông nghiệp chuyên canh lớn. Trong đó quan tâm đến quỹ đất nông nghiệp ổn định, đặc biệt là đất trồng cây lương thực, không cho lấy đất trồng lúa sử dụng sang việc khác. Điều này giúp cho người nông dân có điều kiện thâm canh, chuyên canh sâu trên thửa ruộng của mình. Ngoài ra, Nhà nước nên tiếp tục triển khai việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020.