Phát triển năng lượng tái tạo: Cần có cơ chế hỗ trợ đủ mạnh

Xem tin gốc 

QĐND - 28 tháng trước 66 lượt xem

Phat trien nang luong tai tao: Can co co che ho tro du manh

QĐND Online - Việt Nam có tiềm năng dồi dào để phát triển năng lượng tái tạo (NLTT). Nhưng đến nay, việc khai thác và sử dụng nguồn năng lượng này cho phát điện vẫn ở mức khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng. Đó chính là một trong những ý kiến của các chuyên gia tham dự Hội nghị quốc tế lần đầu tiên về Giải pháp cho ngành Năng lượng Tái tạo và Phân tán (ENEREXPO Vietnam 2010), được tổ chức tuần qua, tại Hà Nội. Hội nghị do Công ty Dịch vụ Hội chợ triển lãm quốc tế (IMAG) Đức và Viện Năng lượng Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự hỗ trợ của Công ty cổ phần triển lãm công nghệ quốc tế (ITEC)...

Việt Nam có tiềm năng lớn về NLTT

Việt Nam được khẳng định là nước có nguồn NLTT dồi dào và đa dạng như thủy điện nhỏ, sinh khối, gió, mặt trời, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học… Tiềm năng của nguồn năng lượng này cũng rất lớn.

Theo điều tra của Ngân hàng Thế giới, ước tính tổng tiềm năng điện gió là 513.360 MW, tương đương với 200 lần công suất của thủy điện Sơn La ở miền Bắc Việt Nam (là nhà máy điện lớn nhất Đông Nam Á) và 10 lần tổng công suất quốc gia dự báo cho năm 2020.

Về ứng dụng pin mặt trời: tổng công suất lắp đặt hiện nay trong cả nước là 1,5 MWp. Chủ yếu đáp ứng nhu cầu về điện cho hộ gia đình nông thôn và miền núi, tập thể, cơ quan- những nơi chưa có lưới điện quốc gia. Trong đó, lượng điện các hộ gia đình nông thôn, miền núi và cộng đồng sử dụng chiếm từ 25- 30%, viễn thông 35%, thông tin hàng hải 35%.

Ông Đặng Đình Thống, Trung tâm NLTT- Đại học Bách khoa Hà Nội (HUT) cho biết, gần 2 triệu hộ gia đình nông thôn còn lại ở các vùng núi và hải đảo sẽ được cấp điện bằng NLTT, bao gồm cả những hệ thống pin mặt trời, để đến 2020 tất cả các hộ đều có điện.

Bên cạnh đó, ông Nguyễn Minh Việt, Viện Thủy điện và NLTT (IHR) đã đưa ra nhiều thông tin chứng tỏ Việt Nam có tiềm năng thủy điện nhỏ rất lớn, khoảng từ 800 - 1.400 MW.

Ông Việt cho biết, nước ta có lượng mưa trung bình hàng năm cao, từ 2.250- 3.000 mm, nhiều nơi còn lên tới 3.500 mm/năm; mật độ sông suối dày, độ dốc sông suối lớn và phân bố đồng đều trên phạm vi cả nước; hệ thống sông ngòi nước ta có tiềm năng khoảng 300 tỷ KWh, tiềm năng kinh tế kỹ thuật có thể khai thác khoảng 80 tỷ KWh, nhưng hiện mới khai thác được 15% tiềm năng này.

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Viện Năng lượng cho biết thêm, theo kịch bản đưa ra cho phát triển NLTT, đến năm 2025, Việt Nam có thể phát triển 2.500- 3.500 MW, tương ứng với 10 tỷ KWh từ các nguồn NLTT (nếu có các chính sách hỗ trợ phù hợp). Đây sẽ là sự đóng góp đáng kể vào việc đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia. Sự phát triển này sẽ cung cấp điện cho 1 triệu hộ gia đình mà lưới điện quốc gia không thể với tới.

Ngoài ra, Việt Nam cũng đang ở giai đoạn sơ khai trong việc sản xuất điện từ các nguồn sinh khối như bã mía, rơm rạ, trấu…

Nhưng khó phát triển vì nhiều rào cản

Ông Phạm Khánh Toàn, Viện trưởng Viện Năng lượng, phát biểu: Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong việc cung ứng năng lượng do sự cạn kiệt dần nguồn nhiên liệu hóa thạch trong nước; giá dầu biến động mạnh và có xu hướng tăng cao… trong khi nhu cầu sử dụng điện năng cho hoạt động sản xuất, sinh hoạt không ngừng gia tăng.

Chính vì vậy, việc phát triển nguồn NLTT là rất cần thiết. Tuy nhiên, Việt Nam lại chưa có những chính sách hỗ trợ thực sự đủ mạnh cho việc phát triển nguồn năng lượng này.

Ông Nguyễn Minh Việt bày tỏ: “Mặc dù Việt Nam có tiềm năng lớn về thủy điện nhỏ, song trong quá trình triển khai còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc như: cơ chế phát triển thủy điện nhỏ chưa theo kịp với biến động rất nhanh của kinh tế- xã hội; cơ chế đàm phán mua- bán điện còn rườm rà và mất nhiều thời gian; chưa có các cơ chế hỗ trợ rõ ràng về tài chính, thủ tục đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là những dự án khó khăn. Do vậy, chưa có động lực thúc đẩy việc triển khai nhanh các dự án thủy điện nhỏ tại Việt Nam”.

Theo nhận xét của ông Nguyễn Anh Tuấn, rào cản chính đối với phát triển NLTT là chi phí sản xuất cao.

Ngoài ra, còn một số rào cản khác làm hạn chế phát triển NLTT như: thiếu chính sách và các tổ chức hỗ trợ cho phát triển NLTT; thiếu thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ lập quy hoạch và chính sách; các công cụ và dịch vụ hỗ trợ NLTT chưa phát triển; khó tiếp cận nguồn vốn cho phát triển các dự án NLTT…

Cần có chính sách hỗ trợ thực sự

Để đạt được mục tiêu từ nay đến năm 2015, NLTT chiếm 3% tổng công suất điện thương mại và đạt 5% vào năm 2020, vấn đề then chốt là có công nghệ NLTT tiên tiến, chi phí hợp lý, có chính sách hỗ trợ thích hợp, khuyến khích các nhà đầu tư trong việc cải tiến công nghệ để giảm dần chi phí sản xuất NLTT, tiến tới có thể cạnh tranh về giá so với năng lượng truyền thống.

Ông Nguyễn Anh Tuấn thẳng thắn khẳng định: “Hiện tại, ở Việt Nam chưa có cơ chế hỗ trợ cho phát triển NLTT”.

Đặc tính của NLTT là phụ thuộc nhiều vào các điều kiện thiên nhiên (nước, mặt trời, gió, địa điểm…), các công nghệ đã chín muồi và chi phí sản xuất còn cao hơn các năng lượng truyền thống khác. Do đó, để phát triển NLTT, cần có cơ chế hạn ngạch, cơ chế giá quy định, cơ chế đấu thầu hợp đồng và cơ chế tín dụng thuế. Cơ chế này sẽ làm giảm rủi ro cho nhà đầu tư tham gia phát triển NLTT, với các giá quy định cho từng loại NLTT, chính phủ sẽ khuyến khích phát triển những công nghệ NLTT cần cho những mục tiêu khác nhau… ông Tuấn nhấn mạnh.

Theo các chuyên gia khác của Viện năng lượng, NLTT có tiềm năng lớn nhưng để khai thác chúng cần có các cơ chế hỗ trợ.

Tại hội nghị này, ông Phạm Khánh Toàn đã khẳng định: “Chính phủ đã nhìn thấy tầm quan trọng để đảm bảo rằng các nguồn NLTT sẵn có của Việt Nam sẽ được xem xét phát triển và các rào cản hiện nay về cơ chế cũng như tài chính sẽ dần được khắc phục để NLTT có đóng góp tốt cho phát triển dân sinh, kinh tế, xã hội, môi trường của Việt Nam trong giai đoạn tới”.

Bích Huệ

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang