Phát triển các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam

ĐCSVN - 

Phat trien cac vung kinh te trong diem o Viet Nam

) – Phát triển các vùng kinh tế trọng điểm không còn là điều mới lạ trên trên thế giới từ nhiều thập niên trước và cả Việt Nam trong những năm gần đây. Tuy nhiên, riêng đối với Việt Nam bên cạnh những kết quả khả quan đạt được đã có không ít vấn đề đặt ra cần giải quyết. Từ bài viết này mong được góp phần nghiên cứu, lý giải về những vấn đề đó.

1. Phát triển các vùng kinh tế trọng điểm là xu thế khách quan trong tiến trình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH

Việc phát triển các vùng KTTĐ đối với nhiều quốc gia, lãnh thổ trên thế giới cho đến nay như đã đề cập không còn là vấn đề mới lạ mà trên thực tế đó đã trở thành một xu thế mang tính quy luật khách quan trong tiến trình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Điều này đặc biệt cần thiết đối với những quốc gia, lãnh thổ còn có nền kinh tế chưa phát triển hoặc kể cả đã là nền kinh tế đang phát triển nhưng giá trị sản phẩm nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ khá cao (trên 20%) trong tổng GDP như Việt Nam hiện nay.

Như đã biết, cơ cấu của nền kinh tế thường được xem xét trên các phương diện: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng (cơ cấu lãnh thổ), cơ cấu lao động và cơ cấu thành phần… Theo định hướng chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội X (tháng 4.2006) của Đảng, cơ cấu kinh tế nước ta sẽ tiếp tục được chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Có nghĩa là, đòi hỏi trước hết về cơ cấu ngành, cần và phải phấn đấu nâng cao tương đối và tuyệt đối hơn nữa tỷ trọng % trong GDP của giá trị sản phẩm các ngành công nghiệp, dịch vụ; trong khi đó, tỷ trọng % giá trị sản phẩm của ngành nông nghiệp/GDP thì ngày càng giảm tương đối xuống dần ở mức hợp lý, trong khi mức tăng tuyệt đối vẫn duy trì để đảm bảo an ninh lương thực - thực phẩm và có xuất khẩu nông sản. Đồng thời trên cơ sở đó, các loại cơ cấu vùng, cơ cấu lao động và cơ cấu thành phần cũng biến đổi phù hợp tương ứng theo của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH, hội nhập ngày càng sâu, rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt là kinh tế khu vực Đông Á vốn đã có nhiều nét tương đồng, gần gũi với thị trường nước ta từ nhiều năm qua…

Theo đó, mục tiêu phấn đấu về cơ cấu ngành trong GDP đến năm 2010 của nước ta như đã được Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đề ra sẽ là: khu vực nông nghiệp giảm từ 20,9% năm 2005 xuống còn khoảng 15-16%; công nghiệp và xây dựng tăng từ 41% năm 2005 lên 43-44%, dịch vụ tăng từ 38,1% năm 2005 lên 40-41%.

Cần thấy rằng, đồng thời với sự chuyển dịch đó, như là một tác động tương hỗ của quan hệ nhân quả, cơ cấu kinh tế vùng của Việt Nam cũng sẽ phải và cần phải chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh của từng vùng, trong đó nổi bật vai trò hạt nhân phát triển trước hết là ở 3 vùng KTTĐ đã có quá trình hình thành, phát triển từ những năm 1997-1998 đến nay là Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ và gần đây từ tháng 4/2009 thêm mới là vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) mà sau đây ta sẽ xem xét kỹ hơn.

2. Tiến trình hình thành các vùng KTTĐ ở Việt Nam

Nhằm tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước cũng như tạo mối liên kết và phối hợp trong phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng lãnh thổ khác nhau của nước ta, kể từ cuối năm 1997 và đầu năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã lần lượt phê duyệt Quyết định số 747/1997/QĐ-TTg, 1018/1997/QĐ-TTg và Quyết định số 44/1998/QĐ-TTg về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội 3 vùng KTTĐ quốc gia đến năm 2010, bao gồm 3 vùng KTT Đ ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ.

Trong 3 vùng KTT Đ này, có 13 tỉnh/thành phố phố được xếp vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng KTTĐ.

1

Hà Nội

2

Hưng Yên

3

Hải Phòng

4

Quảng Ninh

5

Hải Dương

1

Thừa Thiên - Huế

2

Đà Nẵng

3

Quảng Nam

4

Quảng Ngãi

1

TP Hồ Chí Minh

2

Bình Dương

3

Bà Rịa -Vũng Tàu

4

Đồng Nai

Tổng số: 13

Trong Hội nghị các tỉnh thuộc vùng KTTĐ Nam Bộ ngày 20-21/6/2003, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định mở rộng ranh giới của vùng. Văn phòng Chính phủ sau đó đã ra Thông báo số 99/TB-VPCP ngày 02/7/2003 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ bổ sung vào vùng KTTĐ Nam Bộ thêm 3 tỉnh: Tây Ninh, Bình Phước, Long An. Tổng diện tích vùng KTTĐ sau khi bổ sung là 23.994,2 km2, bằng 7,3% diện tích cả nước. Dân số (tính đến năm 2002) là 12,3 triệu người, bằng 15,4% so với cả nước.

Trong Hội nghị các tỉnh thuộc vùng KTTĐ Bắc Bộ ngày 14-15/7/2003, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định mở rộng ranh giới của vùng; sau đó Văn phòng Chính phủ đã ra Thông báo số 108/TB-VPCP ngày 30/7/2003 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị, trong đó có Quyết định "Đồng ý bổ sung 3 tỉnh: Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc vào vùng KTTĐ Bắc Bộ". Tổng diện tích vùng KTTĐ Bắc Bộ sau khi bổ sung là 15.277 km2, bằng 4,64% diện tích và dân số (tính đến năm 2002) là 13,035 triệu người, bằng 16,35% so với cả nước.

Vùng KTTĐ Trung Bộ, theo quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ số 1018/1997/QĐ-TTg ngày 29/11/1997, gồm thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Nay quy mô của vùng được mở rộng thêm tỉnh Bình Định. Như vậy, vùng có diện tích tự nhiên 27.879 km2, dân số năm 2002 có khoảng 6 triệu người, chiếm 8,47% về diện tích tự nhiên và khoảng 7,49% dân số so với cả nước.

Do yêu cầu thực tiễn cũng như sự hiểu biết ngày càng nâng cao nhận thức hơn về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của các vùng KTTĐ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; để đảm bảo cho sự vận hành về phát triển kinh tế của từng vùng cũng như giữa các vùng một cách hiệu quả, ngày 18 tháng 02 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 20/2004/QĐ-TTg về việc thành lập Tổ chức điều phối phát triển các vùng KTTĐ ở cấp Trung ương. Cơ cấu bộ máy của Tổ chức điều phối phát triển các vùng KTTĐ bao gồm: Ban Chỉ đạo điều phối phát triển các vùng KTTĐ (gọi tắt là Ban Chỉ đạo) và các Tổ điều phối của các Bộ, ngành và địa phương trong vùng KTT Đ.

Tiếp đó, ngày 13 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Quyết định số 145, 146, 148/2004/QĐ-TTg về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế -xã hội vùng KTTĐ đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020. Trong các quyết định này, quy mô của các vùng KTTĐ đã được mở rộng thêm 7 tỉnh gồm Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh (Bắc Bộ); Bình Định (Trung Bộ) và Tây Ninh, Bình Phước, Long An (Nam Bộ). Đồng thời, các quyết định này cũng thay thế cho các quyết định số 747/1997/QĐ-TTg, 1018/1997/QĐ-TTg và Quyết định số 44/1998/QĐ-TTg đã ban hành năm 1997 và năm 1998.

Như vậy, tính cho đến nay, quy hoạch tổng thể về số tỉnh, thành phố ở 3 vùng KTTĐ trên của Việt Nam đã được phân định như sau:

1

Hà Nội

2

Hưng Yên

3

Hải Phòng

4

Quảng Ninh

5

Hải Dương

6

Hà Tây

7

Bắc Ninh

8

Vĩnh Phúc

1

Thừa Thiên - Huế

2

Đà Nẵng

3

Quảng Nam

4

Quảng Ngãi

5

Bình Định

1

TP Hồ Chí Minh

2

Bình Dương

3

Bà Rịa - Vũng Tàu

4

Đồng Nai

5

Tây Ninh

6

Bình Phước

7

Long An

Tổng số: 20

Lưu ý rằng, riêng với vùng KTTĐ Bắc Bộ kể từ ngày 1/8/2008 khi Hà Nội đã được mở rộng địa giới bằng sáp nhập thêm toàn bộ tỉnh Hà Tây cũ thì vùng này hiện nay chỉ còn bao gồm 7 tỉnh là: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc.

Vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL được thành lập theo Quyết định 492 ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ. Có vùng này là do tầm quan trọng sẽ trở thành vùng trọng điểm về sản xuất lúa gạo, thủy sản của phía Nam và cả khu vực sông Mê Kông. Vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL cùng với 3 vùng KTTĐ Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ sẽ đóng vai trò động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.

Vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL nằm ở phía Tây Nam nước ta bao gồm: TP Cần Thơ, tỉnh Cà Mau, Kiên Giang và An Giang với tổng diện tích hơn 16.600 km2, dân số khoảng 6,4 triệu người.

Trong 5 năm 2001 – 2005, GDP tăng trưởng của vùng này đạt bình quân 10,96%/năm (trong khi cả nước 7,5%), từ năm 2006 - 2008 là 13,57%/năm (cả nước 7,5%), 6 tháng đầu năm 2009 các tỉnh đã vượt qua được khủng hoảng và phát triển ổn định.

Vùng KTTĐ này tuy mới thành lập nhưng nhiều năm qua các địa phương đã biết khai thác những lợi thế khác nhau để tạo được bước phát triển khá cao. Ngoài nông nghiệp trồng lúa và nuôi trồng thủy sản, các tỉnh trong vùng đang tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế tăng dần tỷ trọng ngành dịch vụ…

(Kỳ sau: Thực trạng phát triển và vấn đề đặt ra ở các vùng KTTĐ)

Tin mới