Phải sống

Xem tin gốc 

Pháp luật & Xã hội - 6 tháng trước 88 lượt xem

(PL&XH) - Người đàn ông đó đã mất gần nửa thế kỷ để đi tìm một sự thật, rằng mẹ mình không phải là chỉ điểm cho Pháp mà là người có công nuôi giấu cán bộ cách mạng.

Ông tên là Nguyễn Văn Hùng, nguyên cán bộ kỹ thuật phòng KCS của Nhà máy Chế tạo điện cơ, hiện đang ở đường Bạch Đằng, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Câu chuyện cảm động đó đã được tôi viết khi tôi còn trẻ, mới chân ướt chân ráo về làm báo. Tiếp đó là những chuyến đi, những bài viết... Tôi bị cuốn vào công việc và quên đi nhiều chuyện. Cho đến một buổi sáng thật bất ngờ, ông đến gõ cửa nhà tôi như một người thân lâu ngày gặp lại...

Dưới đây là câu chuyện buồn của ông gần 60 năm về trước.

... Đầu năm 1950, khi ấy, cụ Nguyễn Thị Ba (SN 1925) còn là một cô gái trẻ, đảm đang, tháo vát. Cô thường buôn bán tơ tằm, hàng xén từ Hà Nội (lúc đó còn nằm trong vùng giặc Pháp tạm chiếm) ra vùng tự do. Cùng thời gian, đội công an Z, công an Hà Nội hoạt động vùng ngoại thành dùng nhà cô là cơ sở. Chồng cô là bộ đội, đóng quân xa nhà, ở nhà chỉ có 3 mẹ con, cô cùng hai con là Nguyễn Văn Hùng (SN 1943) và Nguyễn Thị Hiền (SN 1945). Ngoài gia đình cô còn một số gia đình khác ở xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (cũ) cũng làm cơ sở cách mạng, nuôi giấu cán bộ, vận chuyển thư từ, tài liệu...

Vào thời kỳ này, bọn địch khủng bố rất dã man. Chúng đi càn thường xuyên, ngày cũng như đêm, hễ nghi vấn ai, chúng xông thẳng vào nhà và lôi ra cánh đồng xả súng. Cả xã sống trong tâm trạng cực kỳ căng thẳng. Sự căng thẳng bị đẩy lên tới đỉnh điểm khi vào một buổi chiều, bọn giặc xông vào một ngôi nhà, đến căn hầm bí mật nơi cuối vườn lôi từ dưới lên hai chiến sĩ công an đội Z. Chúng trói tay, giải hai chiến sĩ ra cánh đồng và nổ súng.


Ảnh minh họa

Ngay chiều hôm sau, một người đàn ông đến nhà cô Ba, bảo cô đi theo có việc gấp. Cô vội vàng gửi lại hai đứa con thơ rồi ra đi. Một ngày, hai ngày vẫn không thấy cô về, đến ngày thứ ba, mọi người nóng ruột đổ xô đi tìm thì thấy xác một phụ nữ trong cái chuôm. Mặc dù thi thể biến dạng nhưng tất cả vẫn nhận ra đó là cô Ba. Cũng từ đó, dân làng truyền nhau: Cô Ba bị giết vì làm chỉ điểm cho Pháp bắn hai chiến sĩ công an đội Z...

Mấy chục năm qua đi, hai anh em ông Hùng đã lớn lên trong dư luận đau buồn ấy. Vì sao mẹ ông bị giết, ai giết và có đúng mẹ ông là phần tử phản cách mạng không? Suốt bao nhiêu năm, ba cha con ông đã gặp không biết bao nhiêu người từng hoạt động cùng mẹ ông, làm đơn gửi đến nhiều nơi và cuối cùng, mọi nỗ lực của ông đã mang lại kết quả: Tháng 8-1990, Công an thành phố Hà Nội đã có kết luận: Năm 1950, cụ Nguyễn Thị Ba bị giết không phải vì phản cách mạng. Cầm quyết định trong tay mà ông không tin vào mắt mình nữa. Ông đọc đi đọc lại nhiều lần cho đến khi mắt ông nhòa đi.

Ông vẫn nhận ra tôi, tác giả của bài báo hơn chục năm về trước. Hai anh em bắt tay nhau thật chặt trong nỗi xúc động khó tả. Tôi nhìn ông hồi lâu, vừa mừng vì người quen lâu ngày gặp lại, vừa muốn biết kỹ hơn bi kịch của ông mà bài báo trước không có điều kiện đề cập tới. Và ông đã kể tôi nghe tất cả. Trong tiếng cười thoải mái, chân chất của ông, tôi vẫn nhìn thấy đôi mắt ông như có nước.

Sau ngày mẹ bị giết, ông cùng em gái và người cô đi ở cho người bác họ. Công việc chính là chăn trâu, cắt cỏ và những việc đồng áng khác. Vất vả là thế nhưng có được miếng ăn qua ngày. Bố đi kháng chiến, có chỗ dựa cũng là tốt lắm rồi. Người ta có thương cảnh mồ côi, lại họ hàng nên cho làm chứ hồi đó hai anh em còn nhỏ tuổi, biết làm gì để kiếm miếng ăn hàng ngày. Hòa bình lập lại, bố ông là cụ Nguyễn Văn Cổn về nhà, vô cùng đau đớn khi biết tin vợ mất, cũng để tránh tiếng cho các con nên đưa hai con về sống trong tập thể Quân y viện 9 ở Vĩnh Yên. Lúc đó, hai anh em ông Hùng mới được theo bạn theo bè cắp sách đến trường.

Đầu năm 1961, ông được đi học trung cấp kỹ thuật, chuyên ngành cơ khí ở trường Trung cao cơ điện. Ra trường, ông được phân về làm việc tại Nhà máy Chế tạo điện cơ. Là một công nhân say nghề, có năng lực, sống chan hòa, ông được bầu làm Bí thư chi đoàn nhà máy, rồi công nhân bậc 6, bậc cao nhất thời đó. Thấy ông có chí phấn đấu, cơ quan nhiều lần bảo ông làm hồ sơ đi học ở nước ngoài, nhưng mỗi khi cơ quan cử người về địa phương xác minh đều có một kết luận: Mẹ ông là chỉ điểm cho Pháp. Vậy là tất cả đành gác lại. Ông không nản, vẫn lao vào công việc vì ông nghĩ đơn giản, sẽ đến một ngày, sự thật được đưa ra ánh sáng. Và nếu ông có sống tốt thì mọi người cũng vẫn nhìn nhận, đánh giá chính xác về ông. Năm 1990, ông nhận được quyết định minh oan cho mẹ mình thì năm 1993, ông nghỉ hưu. Gánh nặng quá khứ đã đè lên vai ông hơn nửa cuộc đời, từ khi ông còn là một đứa trẻ cho đến khi mái đầu điểm bạc. Ông bảo, minh oan cho mẹ - đó là việc phải làm, cho cả người chết và người sống được thanh thản. Nó cũng như một món nợ mà nếu mình không trả, mình sẽ dằn vặt cho tới ngày nhắm mắt. Cha ông, cụ Nguyễn Văn Cổn sau này đi bước nữa. Cuộc sống gia đình vẫn giữ nếp êm ấm, thuận hòa. Năm 1987, cha ông mất ở Thái Nguyên. Khi còn sống, chính cụ cũng đã nhiều lần làm đơn, đề nghị minh oan cho vợ, nhưng phải đến 3 năm sau ngày mất, đề nghị đó mới trở thành sự thật. Khi ông đã bình tĩnh trở lại, tôi hỏi ông:

- Trong những ngày đó, kỷ niệm buồn nhất của bác là gì, bác có nhớ không?

- Kỷ niệm buồn thì nhiều lắm. Mỗi dịp Tết đến xuân về, nhìn lên bàn thờ mẹ, tôi lại thấy mình như có lỗi. Còn bà nhìn tôi như bảo rằng, hãy tin và chờ đợi. Sẽ đến một ngày, sự thật không còn nằm trong bóng tối nữa.

- Còn kỷ niệm vui?

- Kỷ niệm vui nhiều hơn. Khi tôi gặp lại những người bạn cũ của mẹ, mọi người đều nhận ra tôi vì tôi rất giống mẹ. Ai cũng có những nhận xét tốt về mẹ tôi. Chính họ cũng không thể nghĩ rằng mẹ tôi lại bị oan lâu đến thế. Họ coi tôi như con cháu trong nhà và làm tất cả những gì có thể. Những tấm lòng đến với nhau trong cơn hoạn nạn quý như vậy đấy chú nhà báo ạ. Nó cho ta niềm tin rằng, ta không đơn độc và phải sống để chờ đón những điều tốt đẹp ở phía trước.

Rồi cái ngày mong đợi ấy đã đến, dù muộn. Nếu điều đó đến sớm hơn, có thể nhiều cơ hội tốt đẹp đã mở ra trước mắt ông, có thể cuộc đời ông đã rẽ sang những ngả khác... Nhưng muộn còn hơn không. Ông tự an ủi mình và vợ con. Miễn là mình sống tốt cho lòng được thanh thản.

Một ngày tháng 6-2007, trời nắng như đổ lửa, tôi tìm đến nhà ông. Đó là ngôi nhà tuyềnh toàng nằm trong con ngõ ngỏ giữa đường Bạch Đằng và Hồng Hà ở phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm. Trước đây, nó là nhà tập thể do vợ ông khi ấy công tác tại Chi nhánh điện lực Ba Đình được cơ quan phân cho, diện tích vẻn vẹn 25 m2. Hai vợ chồng dành dụm, chắt chiu mãi, đến năm 1997 mới xây được một tầng rưỡi. Phải cố lắm, vì sợ mùa lụt bão, nước ngập nửa nhà, xây để có chỗ lánh tạm chứ đi nhờ người ta mãi cũng phiền. Mà ở sau đê là chấp nhận sống chung với lũ rồi - Ông cười hiền nói với tôi như thế.

Tôi đưa mắt nhìn khắp gian phòng tầng một, tài sản hầu như chẳng có gì đáng giá. Ngoài kia, chỉ cách nhà ông vài trăm mét thôi là một cuộc sống hối hả, là những dòng xe xuôi ngược đi về trăm ngả và con sông Hồng cuộn chảy đã gắn bó với cuộc đời thăng trầm của ông. Một câu hỏi lại nhói lên trong tôi, lẽ ra, ông đã có một cuộc sống khác, đầy đủ hơn nhiều...

Quá khứ đã lùi xa. Con người vẫn bị cuốn vào những dòng chảy bất tận của đời sống hiện tại. Ông đã quên đi nhiều vì như ông nói, còn phải làm việc, nuôi dạy các con lên người. Chắc chắn các cháu sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn cha mẹ chúng.

Vâng, đúng vậy. Ông có ba người con, cô cả sau khi tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ hiện đã có gia đình riêng và đang làm ở một doanh nghiệp lớn. Cô thứ hai và cậu út đều có công việc ổn định. Ngồi trò chuyện với tôi, hơn một lần ông nói: Vì trời thương mình vất vả nên bù lại, các cháu được học hành đến nơi đến chốn chứ mình tài cán gì. Song, tôi hiểu, vợ chồng ông đã nỗ lực rất nhiều. Không như những cuộc đời may mắn khác, ông đã phải vượt qua một chặng đường dài trong nỗi đau tinh thần mà chỉ người trong cuộc mới có thể cảm thông và chia sẻ. Ông đã không bị cuốn vào bi kịch cuộc đời để làm điều dại dột, trái lại, vợ chồng ông luôn nghĩ rằng, phải sống và hy vọng, phải sống như một người bình thường mặc dù bi kịch của mình có khi còn đè nặng suốt cả cuộc đời.

Thắp một nén hương trên bàn thờ cụ Nguyễn Thị Ba, tôi có một cảm giác rất lạ, hình như cụ vẫn luôn hiện hữu trong ngôi nhà nhỏ đó, chứng kiến sự trưởng thành của con cháu và tiếp cho họ nghị lực, niềm tin để họ can đảm đi qua những thăng trầm, giông bão của đời người.

Hiền Phương

Từ khóa liên quan

Danh từ
Động từ
Cụm từ
Địa danh thế giới
Tên người
Địa danh trong nước

Tin đọc nhiều

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang