Ý tưởng táo bạo
Buổi sáng mùa đông rét buốt năm 1989, một thanh niên có khuôn mặt khắc khổ, co ro trong chiếc áo bộ đội bạc màu, chân lệt xệt dép lê chiếc xanh, chiếc đỏ rụt rè gõ cửa Trung tâm Sinh học thực nghiệm (Trường đại học Sư phạm Hà Nội I). Chàng thanh niên lúng túng hồi lâu mới dám hỏi các thầy cô ở Trung tâm về kinh nghiệm nuôi ba ba. Song, không ai trả lời được câu hỏi này, bởi Việt Nam lúc đó chưa có tài liệu nào liên quan. Đội chiếc mũ rơm, nhảy lên chiếc xe cũ lóc cóc đạp về Hải Dương mà lòng chàng thanh niên Đinh Bá Cường nặng trĩu.
Con ba ba đối với Cường không hề lạ lẫm, bởi anh chính là “sát thủ” nổi tiếng với kỹ nghệ bắt ba ba gần bờ. Chỉ cần nhìn thấy tăm sủi, vài phút sau, Cường đã tóm gọn được con ba ba vài kg. Tại chiến trường B - Đồng Nai, con cua đinh (tên gọi con ba ba của đồng bào miền Nam) đã giúp anh và đồng đội vượt qua cơn đói lả. Con ba ba cũng là thức ăn tươi cải thiện bữa cơm độn ngô, khoai của gia đình đông đến 8 người con của anh sau những ngày rời quân ngũ.
Những năm 1986-1989, ba ba bỗng trở thành loài đặc sản được săn lùng ráo riết với giá bán cao ngất ngưởng. Bắt vài con ba ba có thể mua vài tạ lúa hoặc đổi được cả chiếc xe đạp Liên Xô. Cơn sốt săn lùng ba ba lan đến vùng quê nghèo Hải Dương. Thợ bắt ba ba từ Nam Định, Thái Bình, Hà Nội đổ về tóm sạch, diệt gọn. Thương lái Trung Quốc săn lùng ráo riết. Con ba ba đứng trên bờ tuyệt chủng.
Liệu ba ba tự nhiên có thuần nuôi được không? Nếu nuôi được không những bảo tồn được giống ba ba, mà còn bắt nó sinh lợi, đẻ ra tiền. Từ ý tưởng này, mỗi khi bắt được ba ba, Cường không bán cho thương lái, mà đào bể thả nuôi. Mấy năm liên tục, đàn ba ba của anh thất thoát dần do ba ba đục bể chạy trốn, hoặc mắc bệnh chết. Không nản chí, Cường đi hỏi nhiều chuyên gia, lục tung nhiều thư viện để tìm tài liệu hướng dẫn nuôi ba ba. Nhưng những gì anh tìm được chỉ là con số không to tướng.
Ăn, ngủ cùng ba ba
Trong lúc đó, tại Hà Nội, GS-TS Nguyễn Lân Hùng, Giám đốc Trung tâm Sinh học thực nghiệm cũng lật tung Thư viện Quốc gia, Thư viện Hà Nội và Thư viện Trường đại học Nông nghiệp I mà vẫn không tìm được tài liệu nào nói về ba ba. Thế nhưng, ông Hùng tìm thấy trên cuốn Danh bạ Thủy sản Đài Loan của Trung tâm Thông tin Bộ Thủy sản có mấy trang tiếng Anh và hình minh họa con ba ba. Ông mượn dịch và mang mấy trang tài liệu sơ sài xuống Hải Dương tìm Cường để bàn cách thuần hóa ba ba.
Căn nhà nhỏ rộng hơn 40 m2 ở phố Quang Trung, thị xã Hải Dương được Cường lập thành “trang trại mini” phục vụ việc nuôi thực nghiệm ba ba. Bắt đầu từ đó, hai thầy trò “ăn ngủ cùng ba ba”. Bằng việc quan sát tỉ mỉ, họ đã phát hiện ra nhiều tập quán sinh trưởng của ba ba. Loài vật này như trẻ con vậy, phải cho ăn nhiều lần trong ngày thì mới chóng lớn. Chúng cũng là loại nhát gan, nghe tiếng động lớn là bỏ ăn, nên nếu thay nước cũng chỉ thay nước nửa bể và phải tiến hành thật nhẹ nhàng.
Nuôi được ba ba lớn thành công, Cường thả ba ba cái, ba ba đực vào chung một bể để phối giống. Đâu ngờ, mấy ngày sau, ba ba chết nổi trắng bụng làm anh choáng váng. Hai thầy trò hì hụi giải phẫu tìm nguyên nhân tử vong, nhưng tìm mãi không ra. Chợt thấy trên mình ba ba có nhiều vết xước, quan sát kỹ, họ mới phát hiện, ba ba chết là do cắn nhau. Đó là hậu quả của việc Cường đã thả nhiều ba ba đực, ba ba cái vào cùng một bể, nên chúng cắn nhau để giành bạn tình. Từ đó, anh tách riêng ba ba ra để phối giống.
Đến ngày ba ba đẻ, để quan sát, Cường phải đào hầm, khoét kính rình xem. Hàng chục đêm thức trắng nuôi muỗi, người gầy xọp, nhưng anh rất vui vì phát hiện ra rằng, ba ba sống dưới nước nhưng lại chọn nơi đất cát, xốp trên cạn để đẻ trứng.
Nhưng có được trứng vẫn chưa hết khó khăn. Hồi đó, tỷ lệ ấp nở thành công chỉ 20-30%. Mỗi con ba ba một năm chỉ đẻ được 2 lứa, mỗi lứa vài chục trứng, nên nhìn số trứng bị ấp hỏng, Cường tiếc hùi hụi. Hàng trăm mẻ trứng hỏng do nhiệt độ ấp cao quá, lạnh quá hay do con đực phối giống với nhiều con cái quá… là những bài học đắt giá để anh rút ra kinh nghiệm là: trứng ba ba ấp nở thành công ở nhiệt độ 31 độ C và tỷ lệ phối giống chất lượng tốt là “một trống, hai mái”.
Bao nhọc nhằn, khó khăn đã được đền đáp khi Cường xuất chuồng lứa ba ba đầu tiên. Chỉ một lứa giống, anh lấy lại được vốn liếng bỏ ra trong nhiều năm. Bồi hồi nhớ lại thời điểm đó, anh ví von rằng, hồi ấy, cứ mỗi sáng thức dậy, anh lại nhặt được 2 chỉ vàng từ việc bán ba ba giống. Ba ba ấp nở đến đâu có người mua hết đến đó, thậm chí còn đặt hàng trước cả nửa năm.
Mọi chuyện đang xuôi chèo mát mái, thì tai họa theo mùa mưa năm 1994 giáng xuống. Đêm đó, mưa như trút nước, nước mưa lạnh buốt xương, nhưng lòng Cường như có lửa đốt. Tiếng sét làm rung chuyển cả mái nhà, mặt đất chao đảo. Thành bờ ao nuôi ba ba của anh bị sét đánh vỡ toang, nước lụt ùa vào. Bao nhiêu ba ba giống, ba ba con trôi theo dòng nước. Vợ anh khóc ròng cả tuần.
Làm gì để nuôi vợ con khi chỉ còn hai bàn tay trắng? Câu hỏi đó cứ quanh quẩn trong đầu Cường. Thức trắng mấy đêm, anh quyết định mượn sổ đỏ của anh em họ hàng đem thế chấp ngân hàng vay vốn để làm lại từ đầu. Thuê đất, xây bể, lần mò khắp nơi mua giống, gần 2 năm sau, lứa ba ba đầu tiên xuất chuồng đã giúp anh trả hết nợ nần và tiếp tục đeo đuổi nghề nuôi ba ba.
Tận tâm truyền nghề
“Trang trại mini” năm xưa nay đã chuyển về số 219 - đường Trần Quang Diệu, Khu 8, phường Hải Tân, TP. Hải Dương, với diện tích hơn 500 m2, gồm 4 bể nuôi ba ba giống, buồng ấp trứng. Căn nhà lụp xụp ở phố Quang Trung cũng đã biến thành căn nhà 3 tầng khang trang. Cậu con trai thứ hai của ông đã trở thành sinh viên và hiện là trợ thủ đắc lực của ông trong nghề.
Còn chàng thanh niên Đinh Bá Cường rắn rỏi năm xưa bây giờ tóc đã điểm bạc, nhưng tình yêu ba ba chưa bao giờ thay đổi. Không ai hiểu rõ công nghệ nuôi, đặc tính của con ba ba hơn ông Cường. Không dừng lại ở đó, ông còn tiên phong thử nghiệm nuôi giống ba ba mới cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Ông đã nhân giống thành công ba ba gai, với giá từ 700.000 đồng tới 1 triệu đồng/con giống. Hiện tại, ông vẫn đang trăn trở hai vấn đề: cải tạo giống ba ba thích nghi với điều kiện khí hậu, mang lại giá trị kinh tế cao và chữa bệnh ung thư cho ba ba.
Khác với nhiều người thường giữ kín bí quyết khi sở hữu trong tay một nghề độc, ông Cường lại hướng dẫn tỉ mỉ, chu đáo với bất cứ ai muốn nuôi ba ba. Trong một lần lên Yên Bái tìm giống ba ba, ông gặp lại một đồng đội cũ đang sống trong cảnh túng quẫn. Ông quyết định ở lại đó suốt một tháng trời để đào bể, lội rừng bắt ba ba giống, hướng dẫn kỹ thuật, giúp bạn gây dựng trang trại nuôi ba ba.
Với đồng đội là vậy, với những người chẳng có họ hàng, quen biết gì, ông cũng nhiệt tình không kém. Có người từ miền Nam khăn gói quả mướp ra mua giống về nuôi, ông bảo: “Trong đó thiếu gì cua đinh, không cần phải mang từ đây vào làm gì cho tốn kém. Anh cứ ở lại đây, tôi sẽ dạy anh cách bắt về nuôi là được”. Có người ở Phú Thọ xuống hỏi mua giống, ông không bán mà ngược rừng, vào khe suối bắt ba ba giúp họ gây dựng đàn ba ba giống và giờ trở thành một chủ doanh nghiệp lớn chuyên xuất khẩu ba ba nổi tiếng cả nước.
Ông không nhớ có bao nhiêu người đã đến trại nuôi ba ba của mình để học nghề, cũng như bao nhiêu cuộc điện thoại gọi đến nhờ tư vấn. Có người nửa đêm gọi hỏi vì ba ba mắc bệnh nấm chết trắng bụng, ông tỉ mỉ hướng dẫn mua thuốc, pha thuốc, cách chăm sóc, trả lời xong thì trời cũng hừng sáng. Cuốn sách “Nghề nuôi ba ba” hướng dẫn nông dân nuôi ba ba theo cách của ông cũng đã được phổ cập tới bà con nông dân khắp mọi miền tổ quốc.
Thăm trang trại của ông Cường, nghe kể câu chuyện mở đường cho nghề nuôi ba ba tại Việt Nam, tôi chợt nhớ câu nói của nhà văn Lỗ Tấn: “Kỳ thực trên đời này làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi”. Thế nhưng, không phải ai cũng đủ dũng cảm để đi những bước chân đầu tiên đó. Giá như Việt Nam có thêm nhiều hơn những người tiên phong như Đinh Bá Cường…