Ông "ba mươi" bày kế độc

Xem tin gốc 

24h.com.vn - 30 tháng trước 132 lượt xem

Ong 'ba muoi' bay ke doc

(24h) - Những tản mạn triết lý về "ông ba mươi" sẽ đưa tới cho các bạn những khám phá thú vị. Cùng đọc để suy ngẫm những giá trị mới.

Con hổ (cọp), dân gian còn gọi là “ông ba mươi” xuất hiện trong đời sống người dân khi Nam bộ còn là vùng đất mới khẩn hoang, hổ gắn liền với các thành ngữ, tục ngữ: “Cọp Bầu Lòng, Võ Tòng Tân Khánh”, “Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận” hoặc “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”, “Hùm dữ không ăn thịt con”, “Ky cóp cho cọp nó xơi”…

Trong đời sống, tín ngưỡng

Hầu hết các đình, miếu ở Việt Nam phía trước đều dựng tượng “thần hổ” dáng vẻ uy nghi, hùng dũng. Theo cố nhà văn Sơn Nam: Trước đình làng, miếu thường xây tấm bình phong với phù điêu con cọp và cây tùng nhằm trấn áp ma quỷ lẻn vào phá rối.

Lúc không cúng đình, thần lắm khi đi vắng, ma quỷ vào theo cửa cái. Thấy con cọp, ma quỷ phải tránh né, đi hướng khác. Bởi ông thần Thành hoàng chỉ đến đình ngày kỳ yên mà thôi.

Chuyện của ngài hổ về "kế độc".

Cố nhà văn Sơn Nam từng kể: Khoảng sau năm 1770, dịp Tết đồng bào đang vui chơi ở đinh Tân Kiểng, bỗng đâu có con cọp to từ phía Rạch Ông chạy lạc đến. Dân chúng chạy tán loạn, có người đến cấp báo tận đồn Dinh, quân sĩ đến, không dám lại gần vì cọp đã nép vào rặng tre cố thủ.

May thay, bỗng đâu xuất hiện nhà sư từ Bình Định đi với đệ tử là Trí Năng, đó là ông Tăng Ân. Với cây côn, Tăng Ân đánh cọp hồi lâu, cọp lui vào bụi tre thủ thế, lát sau đuối sức, ông bị thương nặng, đệ tử nhào đến cứu thầy. Cop chết nhưng ông thầy cũng tử vong. Đồng bào thương tiếc, chôn cất ông tại chỗ và xây tháp tưởng niệm.

Vào năm 1910 ở Thủ Dầu Một (Sông Bé), cọp từ rừng rậm vào thôn xóm bắt người. Lúc này, có hai thầy võ từ Bình Định vào đứng chờ cọp đến để đánh. Đấu với cọp chỉ cần một người bởi hai người mà cùng đánh thì khó bề tấn thối. Người đứng ngoài cầm roi, mách nước cho người đánh.

Gặp thầy võ quá nhiều kinh nghiệm, cọp chỉ còn một thế phòng ngự vô cùng nguy hiểm là nằm ngửa ra, bốn chân đưa lên trời, đó là thế gọi “trâu dằn”. Thầy võ nếu quá hăng cầm roi xốc tới sẽ gặp nguy. Cọp sẽ dùng bốn chân mà nắm chặt ngọn roi của thầy.

Bấy giờ, thầy võ đứng ngoài la lên, căn dặn bạn mình nên dừng tay. Lát sau cọp mất bình tĩnh, thấy nguy, nhìn dáo dác rồi phóng chạy. Thầy võ bên ngoài thừa co hội bèn rượt theo, đánh một roi, cọp ngã lăn ra chết.

Trong nghệ thuật

Thế hệ độc giả trung niên ở Sài Gòn thập niên 60 thế kỷ trước hẳn chưa quên hình con hổ bị trói gô vào gốc cây, bên cạnh là bác nông dân và con trâu trong truyện ngụ ngôn Trí khôn của ta đây trong Quốc văn Giáo khoa thư.

Tác phẩm Nhớ rừng của Thế Lữ trong tập “ Mấy vần thơ” của Tự lực Văn Đoàn xuất bản năm 1937: “Gặm một khối hờn căm trong cũi sắt/ Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua/ Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ/ Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm/ Nay sa cơ, bị nhục nhằn, tù hãm/ Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi/ Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi/ Với cặp báo chuồng bên vô tư lự…”.

Bài thơ được Thế Lữ viết ở Hà Nội khi ông đang làm công việc sửa bản in cho tờ Volonte Indochinoise. Hằng ngày đến tòa soạn ở phố Cửa Bắc, ông phải đi qua vườn bách thú Hà Nội, cảnh tượng một con cọp bị nhốt trong chuồng thường đi đi lại lại gầm gừ, nghẹn ngào uất ức tạo cho nhà thơ một cảm xúc đặc biệt.

Thế Lữ đã xâu chuỗi hình tượng con hổ sa cơ với thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học lãnh đạo để tạo nên kiệt tác Nhớ rừng (tương tự Ông đồ bất hủ của Vũ Đình Liên).

Kim Vân Kiều của đại thi hào Nguyễn Du tả vẻ oai hùng, uy nghi của Từ Hải từ ngoại hình: “Râu hùm hàm én mày ngài” đến “trướng hùm”- da hổ bọc lại thành những thấm lướn để chủ soái luận bàn việc quân cơ hoặc yến tiệc, gọ là “hổ tướng”: “Trướng hùm mở giữa trung quân”, mượn hình tượng con hổ để tả cái chết bị hùng của Từ Hải: “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!”.

Trong võ học

Nguyên giống hổ bắt người thường dùng ba cách: một là tát, hai là vồ, ba là đánh. Các vị tăng chùa Thiếu Lâm (Trung Quốc) đã dày công nghiên cứu cách tấn công của hổ, chế ra các chiêu thức võ thuật vơi các đòn tay gọi là hổ quyền, thế đánh dũng mãnh, uy lực, áp đảo tinh thần thù địch.

Trước 1975, ở ấp Cộng Hòa 5, xóm Võ Ngói (nay là đường Nguyễn Văn Công, Q.Gò Vấp) có võ đường Long Hổ Hội( môn phái Thiếu Lâm Nững Xị) của võ sư Lâm Hữu Hội từng đào tạo nhiều bậc cao thủ, cách đó khoảng hơn cây số, có võ đường Hắc Hổ - Thiết quyền đạo của võ sư Trần Hữu hoàng (ấp Cộng Hòa 2, đường Lê Lợi, Q.Gò Vấp).

Xin kể về nguồn gốc môn võ Bạch Hổ quyền. Một hôm, võ sư Lâm Đạo Thai du ngoạn trên ngọn núi nọ, bất chợt trông thấy một con cọp trắng nhỏ và một con khỉ đột khổng lồ đang giao đấu. Ông dừng lại xem. Con cọp trắng có vẻ thất thế trước địch thủ quá to lớn.

Sau một hồi quần thảo, con khỉ đột chụp được con cọp và chuẩn bị xé ra làm hai mảnh thì bất ngờ cọp trắng vùng dậy tá mạnh vào hạ bộ khỉ đột. Con khỉ rú lên rồi ngã xuống chết tốt. Lâm Đại Thai chứng kiến cảnh ấy làm thích thú, sau đó ông chế ra môn võ Bạch Hổ quyền. Tuy nhiên đến nay Bạch Hổ hầu như thất truyền bởi hai lý do.

Thứ nhất, môn võ này có tính bí mất, chỉ dạy cho con cháu tuyệt đối không dạy người ngoài. Thứ hai, một số người cho rằng chiêu thức tấn công vào hạ bộ đối phương thuộc hạng “bàng một tả đạo”, chẳng đáng để học hỏi.

Trong quần thể công trình kiến trúc ở Huế có một di tích đặc biệt: Hổ Quyền. Đó là một đấu trường từng diễn những trận tử chiến giữa voi và cọp. Từ đời nhà Trần (1225 – 1400) đến thời Hậu Lê (1428 – 1788), triều đình lập ra đấu trường trước sân đấu võ tại kinh thành Thăng Long để voi và cọp tranh tài.

Thời chúa Nguyễn (1558 – 1775) tại Phú Xuân, thủ phủ đang Trong, những trận đấu giữa voi và cọp diễn ra ở cồn Dã Viên trên sông Hương. Một chứng nhân phương Tây có mặt tại Huế lúc bấy giờ là Piere Poivre thuật lại: Năm 1750, chúa Nguyễn Phúc Khoát và các quan trong triều đi trên 12 chiếc thuyền lớn, đến đậu ở gần cồn Dã Viên để xem voi và cọp đánh nhau. Họ xem đến khi 40 con vui giết chết 18 con cọp mới về.

Đấu trường Hổ Quyền ở Huế có kiến trúc khá đơn giản nhưng chắc chắn. Vật liệu xây dựng bằng gạch vồ, đá và vôi trộn mật, cho nên toàn bộ công trình trải qua hơn một thế kỷ rưỡi nay vẫn còn khá nguyên vẹn. Đấu trường lộ thiên có hình vành khăn. Lòng chảo có đường kính 44m, toàn bộ chu vi Hổ Quyền là 140m. Năm 1830, vua Minh Mạng ra lệnh kiến trúc đấu trường Hổ Quyền ở chân đồi Long Thọ (thuộc xã Thủy Biểu ngày nay) đúng vào năm Canh Dần….

Từ khóa liên quan

Danh từ
Khẩu ngữ & Thành ngữ
Cụm từ
Động từ
Tên người
Địa danh trong nước

Tin đọc nhiều

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang