Ông Nguyễn Văn Huy - Ủy viên Hội đồng Di sản Việt Nam: Cần tạo sức bật cho các di sản sau khi được vinh danh

Đại Đoàn Kết - 

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được vinh danh đã khép lại một năm thắng lợi của di sản văn hóa Việt Nam năm 2012. Trên đà đó, nhiều cơ hội mới cũng mở ra ở lĩnh vực này, khi nhiều hồ sơ di sản Việt Nam đang chờ được UNESCO đánh giá và công nhận. Báo Đại Đoàn Kết đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Huy - Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.


ông Nguyễn Văn Huy

Thưa ông, tính đến thời điểm này đã có khoảng 200 di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại được UNESCO công nhận. Trong đó Việt Nam có tới 7 di sản văn hóa phi vật thể. Điều này đã khẳng định: Di sản văn hóa Việt Nam đóng góp đáng kể vào kho tàng văn hóa chung của nhân loại?

Ông Nguyễn Văn Huy: Việc di sản Việt Nam được UNESCO vinh danh, điều đó chứa đựng hai thông điệp. Thứ nhất là niềm vui, bởi các di sản của chúng ta được thế giới thừa nhận. Nhưng đồng thời nó cũng đặt ra cho chúng ta những suy nghĩ về trách nhiệm lớn hơn trong công tác bảo tồn một cách tốt nhất và phát huy những giá trị đó. Ấy là trách nhiệm của Nhà nước, các cấp chính quyền, của cộng đồng. Vì di sản trước hết là tài sản của quốc gia, và cũng là tài sản chung của nhân loại. Tôi nghĩ khía cạnh thứ hai này mới là điều đáng bàn nhất.

Chúng ta có những di sản được công nhận, mà ở đó cộng đồng chính là những tấm gương trong công tác bảo tồn, gìn giữ, như Hội Gióng chẳng hạn. Hội Gióng cho đến nay còn giữ nguyên được những gì cần gắn với cộng đồng và nhu cầu tâm linh thực sự của người dân. Đó là điều quan trọng nhất, mang cái hồn và tinh thần của các hội làng. Nếu người dân không thực sự làm chủ, không thực sự tha thiết với lễ hội của mình, nếu tính thiêng của lễ hội bị giảm sút hay mất đi thì phần hồn của lễ hội có nguy cơ bị triệt tiêu. Mà giờ đây nhiều lễ hội của chúng ta đang mất dần phần hồn đó.

Điều ông nói cũng chính là vấn đề đang đặt ra với lễ hội nói riêng và di sản nói chung. Đó là phải làm sao để người dân trở thành chủ thể trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản?
Như đã nói, Hội Gióng còn giữ được phần hồn, vì người dân ở đây được coi là chủ thể của lễ hội, các gia đình trong làng Phù Đổng đều hướng tâm vào lễ hội và họ thực sự tin tưởng vào tính thiêng của vị Thánh mà dân làng thờ phụng. Người ta tin rằng việc thờ cúng các vị thánh một cách đúng đắn sẽ mang lại may mắn, hạnh phúc gia đình, yên ổn cho xóm làng cũng như thời tiết thuận hòa. Hội Gióng mở ra và đạt được thành công là sự thỏa mãn những niềm tin, nhu cầu của người dân. Hay Quan họ là một di sản nổi tiếng cả nước và ai cũng yêu quý Quan họ. Hội Lim rất tuyệt vời nhưng bấy lâu nay người tới dự luôn băn khoăn về cách tổ chức như thế nào cho tốt nhất… Dường như lâu nay, người ta đang thỏa mãn với cách tổ chức hội Lim phô trương, rầm rộ… Thực ra khi UNESCO công nhận Quan họ là Di sản mà hội Lim là một địa điểm vô cùng quan trọng để trình diễn Quan họ, tức là người ta công nhận những giá trị của Quan họ và cách tổ chức hát truyền thống.

Sau khi được UNESCO tôn vinh, cơ hội mở ra cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản nhiều hơn. Nhưng thật tiếc, chúng ta lại đang thiếu sức bật cho di sản sau mỗi sự vinh danh như thế này.

Với những di sản đã được vinh danh, kể cả ở tầm quốc gia hay thế giới, chúng ta đã có những qui hoạch để gắn di sản với du lịch. Chẳng hạn như xây dựng Hoàng thành Thăng Long thành Công viên Lịch sử văn hóa… Dưới góc độ của một nhà nghiên cứu, ông có cho rằng điều này sẽ góp phần giúp cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di sản tốt hơn?

Ở khía cạnh khai thác du lịch gắn liền với di sản, tôi cho rằng, cần phải nhìn nhận cho đúng hơn về vấn đề này. Di sản trước hết là cho cộng đồng, đó mới là điều quan trọng. Không phải cái gì cũng gắn với du lịch là tốt cả. Có thể ví dụ, hát Xoan ở Phú Thọ. Hát Xoan làm sao du lịch được và cứ cố ép thì làm sao cố được. Hay việc tổ chức hội Gióng hãy cứ giữ ở cấp xã quản lý như hiện nay, vì nếu càng đưa lên các cấp cao hơn thì sẽ dần dần khai tử nó, nhiều sự can thiệp từ bên ngoài, từ bên trên sẽ làm nó không còn vẹn nguyên hồn cốt nữa…

Như ông đã nói, chúng ta đang thiếu sức bật cho di sản sau vinh danh. Quay trở lại với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, một nhà nghiên cứu văn hóa cũng từng nói thế này: phải để cho người dân trong nước thấy được giá trị của những di sản mà mình đang sở hữu, trước khi nó được thế giới vinh danh?

Mừng vì tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được trở thành Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, nhưng cũng có đôi điều trăn trở. Bởi khi chúng ta đưa Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (Phú Thọ) thành Quốc lễ thì cộng đồng ở quanh khu vực núi Nghĩa Lĩnh dường như phải đứng ngoài giá trị văn hóa mà họ đang sở hữu. Những nghi thức quan trọng trong lễ tế thì trước đây do dân làng đứng ra làm, thì giờ đây do lãnh đạo các cấp, từ cấp cao của Nhà nước đến cấp tỉnh thực hiện. Đấy, điều này cũng đồng nghĩa với việc bản thân người dân đã và đang bị đứng bên ngoài lễ hội rồi.

Với kinh nghiệm bảo tồn di sản lâu năm, ông thấy chúng ta cần cải thiện tình hình hiện nay như thế nào?

Ở đây, tôi chỉ xin nói chuyện của Bảo tàng Dân tộc học, hàng năm lượng khách đến tham quan ở đây rất đông, cũng là do cách thức làm. Để bảo tồn di sản và tạo được sức bật cho di sản, chúng tôi mời những người ở làng quê, ở cộng đồng để họ tham gia trình diễn, chính điều này giúp họ tự hiểu phải bảo tồn như thế nào. Đối với các di sản khác của chúng ta cũng cần theo hướng như thế, tức là di sản phải được trả lại cho cộng đồng làm chủ và thực hiện.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Hương Lê (thực hiện)

Tin mới