Nút thắt nào cứ cột chặt nước Mỹ?

Xem tin gốc 

VietnamNet - 28 tháng trước 36 lượt xem

Nut that nao cu cot chat nuoc My?

Hiện nay Mỹ đang phân cực đến mức nào? Đó không phải hoàn toàn là kiểu phân cực theo các tiêu chuẩn từng có trong lịch sử.

Peter Beinart là giảng viên khoa học chính trị và báo chí tại đại học New York và là thành viên cấp cao của New America Foundation (Quỹ nước Mỹ mới). Dưới đây là bài viết của ông về chiếc vòng luẩn quẩn chính trị đã tồn tại nhiều năm ở Mỹ.

Năm 1856, thành viên quốc hội Nam Carolina đã đánh một thượng nghị sĩ bang Massachusetts sống dở chết dở bằng cây gậy ba toong ngay trong văn phòng thượng viện - và sau đó nhận được hàng chục cây gậy mới từ những người hâm mộ "tán thưởng". Năm 1905, các thợ mỏ bang Idaho đã đánh bom nhà của một cựu thống đốc, người quyết phá vỡ liên đoàn của họ.

Năm 1965, một nhà hoạt động phản đối cuộc chiến Việt Nam đã đứng ngay bên ngoài văn phòng bộ trưởng Quốc phòng và ôm cô con gái 8 tuổi của mình trong tay, rồi tự thiêu. (Cô bé may mắn thoát chết, còn người bố thì không). Theo cách nhìn đó, thì những câu nói cường điệu của Rush Limbaugh* không đặc biệt không mang tính chia rẽ. Người Mỹ có thể ca thán với nhau về chính trị, nhưng hầu hết chúng ta (người Mỹ) đều đã cất súng, bom ở nhà, đó là sự tiến bộ.

Những gì thực sự quyết định kỷ nguyên chính trị của chúng ta, như Ronald Brownstein viết trong cuốn sách mang tên The Second Civil War (Cuộc nội chiến thứ hai), không phải là sự phân cực của người dân Mỹ mà là sự phân cực của chính phủ Mỹ. Ở đâu đó trên đất nước này, tranh chấp thực tế có diễn ra nhưng có thể kiểm soát được. Nhưng tại Washington, việc vượt qua được ranh giới đảng phái để giải các vấn đề trở nên rất hiếm.

Kết quả, không có gì bất ngờ, là người Mỹ không thích Washington cho lắm. Theo cuộc khảo sát do CNN tiến hành hồi giữa tháng 2, 62% người Mỹ nói, đa số thành viên Quốc hội không xứng được tái cử, tăng 10 điểm so với năm 2006.

Sự hoài nghi của dân chúng về chính phủ liên bang và năng lực giải quyết các vấn đề không có gì mới, nhưng hiện tại sự bất mãn đã lên cao nhất trong vòng ít nhất 15 năm qua. Chứng kiến sự phát triển của phong trào phản kháng từ quần chúng (Tea Party), mới thấy hết "nỗi bức xúc" của người dân Mỹ đối với Washington. Hay tuyên bố ngày 15/2 của thượng nghị sĩ bang Indiana, Evan Bayh - người từng quyết định sẽ tiếp tục tranh cử vào thượng viện lần thứ ba - rằng ông sẽ không tái ứng cử trong cuộc bầu cử này vì "Quốc hội đang không hoạt động như đúng chức năng của nó".

Nỗi "bức xúc" này đối với thủ đô của Mỹ là có thể hiểu được. Nhưng nó làm cho vấn đề thêm tồi tệ hơn. Từ chăm sóc y tế cho tới năng lượng hay thâm hụt ngân sách, giải quyết những thách thức lớn tại nước Mỹ đòi hỏi hành động mạnh mẽ từ chính phủ. Khi chính phủ không hành động, nó sẽ mất đi sự tin tưởng của người dân. Và không có niềm tin của người dân thì hành động của chính phủ cũng trở nên khó khăn hơn. Hay nói cách khác, đó chính là cái vòng luẩn quẩn của Washington.

Để phá vỡ cái vòng mất đánh mất lòng tin của người dân và thất bại của chính phủ, đòi hỏi phải có những tiến bộ trong giải quyết những vấn đề lớn hơn, điều này lại đòi hỏi sự hợp tác hơn nữa giữa các đảng. Nhưng liệu chúng ta có thể bắt đầu đập tan chiếc vòng đó, nếu không thể hiểu nó phát triển như thế nào trước?

Sự ra đi của những con người ôn hòa

Vòng quẩn quẩn có "căn nguyên" từ rất nhiều vấn đề chính trị Mỹ đã diễn ra suốt 40 năm qua. Giữa thế kỷ XX, hai đảng chính mâu thuẫn với nhau; họ chiếm số đông. Tới năm 1969, sử gia Richard Hofstadter đã thẳng thắn nói rằng đảng Dân chủ và Cộng hòa, mỗi đảng là "một sự phức hợp, một món hổ lốn, của rất nhiều lợi ích xung đột".

Nhưng vào những năm 1960 và 1970, khi các thành viên đảng Dân chủ phương Bắc tự do tập hợp đằng sau các chiêu bài quyền dân sinh, quyền phá thai, bảo vệ môi trường và chính sách đối ngoại hòa bình, thì những người đảng Dân chủ miền Nam bắt đầu ngả sang phía đảng Cộng hòa (GOP). Khi đảng Cộng hòa trở nên hữu khuynh hơn, thì những người tự do phương Bắc trở thành đảng Dân chủ.

Trong khi đó, nhiều thành viên Quốc hội từng đứng trước những lựa chọn khó khăn - bắt phải cân bằng giữa đòi hỏi về một đảng tự do hơn và một khu vực bảo thủ hơn, hoặc ngược lại - thì giờ đây, đảng, khu vực và tư tưởng đang ngày càng được gắn kết. Chính trị Washington trở nên khác hơn một trò chơi rubic mà giống hơn trò chơi shirts vs skins (kiểu trò chơi mà các thành viên của đội này sẽ mặc áo, còn đội kia thì không để phân biệt, tạm gọi là trò "da và áo").

Tổng thống "da và áo" đầu tiên là Ronald Reagan, nhân vật Cộng hòa bảo thủ đích thực đầu tiên được bầu trong vòng 50 năm. Nhưng chỉ sau khi Reagan và người kế nhiệm đảng Cộng hòa của ông, George H.W. Bush, rời nhiệm sở thì các thành viên Cộng hòa trong Quốc hội mới nhận ra rằng họ có thể sử dụng phân cực chính trị để cản trở chính phủ - và lợi dụng sự thất bại của chính phủ để thắng cử. Cùng với "nhận thức" đó, chính trị "vòng luẩn quẩn" bắt đầu trở thành một "nghệ thuật".

Trong những năm 1980, gây mất tín nhiệm cho chính phủ không phải là chiến lược của các nghị sĩ GOP, vì hai lý do.

Trước hết, việc tập hợp đã không thể "nguyên vẹn từ chính nó": riêng thượng viện đã bao gồm cả những thành viên Cộng hòa ôn hòa từ các bang xanh (bang mà toàn bộ người dân chỉ bỏ phiếu ủng hộ đảng Dân Chủ) như Vermont, Connecticut, Rhode Island, Pennsylvania, Maryland và Oregon. Những con người ôn hòa này - gặp gỡ mỗi thứ 4 để ăn trưa - chủ tọa một ủy ban đầy sức mạnh, nằm trong giới lãnh đạo của đảng và giúp cắt giảm các thỏa thuận lưỡng đảng như dự luật cải cách thuế năm 1986, qua đó làm đơn giản hóa bộ luật thuế này, và Luật chống ô nhiễm không khí năm 1990, đặt ra những quy định mới về chống ô nhiễm không khí.

Thứ hai, vì đảng Cộng hòa kiểm soát Nhà Trắng, nên việc làm chính phủ trông "ngờ ngệch" và tham nhũng, cũng có nghĩa là làm cho đảng này ngờ ngệch và tham nhũng.

Tất cả những điều đó thay đổi khi Bill Clinton lên nắm quyền. Với việc đảng Cộng hòa không còn kiểm soát Nhà Trắng, một mầm mống đảng viên Cộng hòa hay gây hấn mới - những người như Newt Gingrich, Tom DeLay and Trent Lott - "nảy ra" chính sách gây mất tín nhiệm cho Clinton: làm mất lòng tin vào chính phủ bằng cả lời nói và hành động.

Họ chế nhạo Washington là không hiệu quả và đầy xung đột. Vũ khí lớn nhất của họ là cản trở thông qua dự luật tại nghị viện, khiến cho đảng Dân chủ phải tập hợp đủ 60 phiếu để dự luật "qua" được thượng viện. Trong lịch sử, việc ngăn cản thông qua dự luật là rất hiếm. Từ khi đảng Cộng hòa ra đời cho tới cuộc nội chiến, thượng viện chỉ chứng kiến chừng một lần ngăn cản thông qua dự luật mỗi thập kỷ. Cuối những năm 1960, chỉ không quá 10% số dự luật lớn bị các thượng nghị sĩ từ chối thông qua. Nhưng trong những năm 1970, quy định không thông qua đạo luật đã thay đổi: Chỉ riêng việc tuyên bố ý định không thông qua của các thượng nghị sĩ đã làm "chặn đứng" bất cứ đạo luật nào thiếu 60 phiếu ủng hộ.

Trong những năm Clinton cầm quyền, các thượng nghị sĩ Cộng hòa bắt đầu kiểu không thông qua đạo luật thường xuyên hơn. "Trong khi những người không thông qua dự luật trước đây là vũ khí được lựa chọn cuối cùng, thì giờ đây, họ là một phần của cuộc sống hàng ngày", các học giả Catherine Fisk và Erwin Chemerinsky viết năm 1997.

Lập tức, những người Cộng Hòa ôn hòa còn lại cho đó là không công bằng và ủng hộ những người Dân Chủ để phá vỡ ý định không thông qua như dự luật về tài chính cho chiến dịch tranh cử và đăng ký cử tri. Nhưng khi làm như vậy, họ đã tự làm khó chính mình.

Sau khi những người ôn hòa này phá hỏng ý định không thông qua đạo luật năm 1993, những đảng viên đảng Cộng hòa bảo thủ đã buộc tội họ là "phản bội". Tranh của họ treo trên tường tại văn phòng ủy ban vận động thượng viện Cộng hòa đã bị gỡ xuống. Nghị sĩ bảo thủ Grover Norquist sau đó tuyên bố: "Những người được gọi là ôn hòa này có gì giống nhau? Họ đều 70 tuổi. Họ sẽ không vận động tranh cử thêm một lần nữa. Họ sẽ ra đi sớm. Vì thế trong khi họ đang phá phách, trong đảng Cộng hòa, vấn đề của chúng ta sẽ dần giảm xuống".

Trong hai năm đầu Clinton làm chủ Nhà Trắng, đảng viên Cộng hòa Gingrich đã nhận ra rằng, chiếc vòng luẩn quẩn hết sức "được việc". Trong khi ý định từ chối thông qua đạo luật có lúc bị phá hỏng, thì chúng cũng khiến chương trình nghị sự của Clinton phải ngừng lại, và khiến Washington trông thật thảm hại.

Một lần, các thượng nghị sĩ GOP không đồng ý với những thay đổi đối với đạo luật khai mỏ đã 122 năm tuổi, qua đó buộc chính phủ phải bán gần 10 tỷ USD quyền khai thác vàng cho một công ty Canada lấy gần 10.000 USD. Còn một lần khác, các nghị sĩ Cộng hòa đã từ chối thông qua đạo luật áp dụng luật lao động đối với các thành viên Quốc hội.

Với những hành động ngầm phá hoại tại cơ quan ban hành luật này, những người Cộng hòa đã khai thác sâu sự thật về người Mỹ: Họ ghét sự cãi cọ ầm ĩ về chính trị, và trút sự bực bội lên những ai gây ra sự ầm ĩ đó. Vì thế, khi Gingrich tiến hành cuộc biểu tình ngồi trong suốt hai năm đầu của Clinton, thái độ của dân chúng trở nên giận giữ hơn.

Tới năm 1994, lòng tin vào chính phủ đã xuống tới mức thấp nhất trong lịch sử, điều rất có lợi cho đảng Cộng hòa, bởi vì lý do chính họ phản đối kế hoạch chăm sóc y tế của Clinton là rằng nó sẽ trao quyền cho chính phủ. Kế hoạch của Clinton (hay còn gọi là Clintoncare) sụp đổ, đảng Dân chủ mất Quốc hội, còn đảng Cộng hòa thì phát hiện được bí mật về chính trị vòng luẩn quẩn: Khi các đảng phân cực, thật dễ để làm mọi việc. Khi không có gì được tiến hành, người dân chống lại chính phủ. Khi bạn là đảng không cầm quyền lực và đảng "sỉ vả" chỉnh phủ, bạn là người chiến thắng.

Không thôi cản trở dự luật

Tất cả những điều này, hóa ra, là một sự khởi động cho những năm Obama. Xét bền ngoài, có vẻ như Obama nhậm chức trên cơ sở vững chắc hơn Clinton, bởi vì đảng Dân chủ chiếm nhiều ghế hơn trong thượng viện.

Nhưng chìm trong sự hân hoan của mình, đảng Dân chủ đã quên mất một điều đặc biệt: chính trị vòng luẩn quẩn phát triển mạnh nhờ có phân cực. Khi khi cuộc họp kín của GOP lui lại, nó cũng cứng rắn hơn.

Từ thời gian đầu đó, Nhà Trắng đã thuyết phục được 3 đảng viên Cộng hòa ủng hộ kế hoạch kích thích. Nhưng một trong những đảng viên Cộng hòa này, thượng nghị sĩ Pennsylvania Arlen Specter - dưới sự công kích thậm tệ vì lá phiếu của mình và phải đối diện với thách thức của cánh hữu - đã xin đổi đảng (trước năm 1965, ông từng là thành viên đảng Dân chủ).

Điều đó có nghĩa là, trong số 6 thượng nghị sĩ Cộng hòa với lịch sử bỏ phiếu ôn hòa nhất trong năm 2007, chỉ có 2 người còn ở thượng viện, và trong đảng này vào năm 2009. "Câu lạc bộ" bữa trưa hôm thứ 4 đã không còn tồn tại. Và càng có ít người Cộng hòa ôn hòa, sẽ càng nguy hiểm cho bất cứ ai trong số họ nếu "thỏa hiệp với đảng đối lập".

Năm 2009, các thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa đã từ chối thông qua tới 80% các dự luật lớn, thậm chí còn nhiều hơn cả thời Clinton. Lãnh đạo GOP Mitch McConnell đứng đầu việc phản đối bỏ phiếu thành lập ủy ban cắt giảm thâm hụt mà trước đó chính ông đã yêu cầu. Nhà Trắng của Obama phải mất hàng tháng để lôi kéo thành viên cấp cao của đảng Cộng hòa, Chuck Grassley, trong Ủy ban tài hính, ủng hộ dự luật cải cách chăm sóc y tế và cho đội ngũ của ông một vai trò lớn trong quá trình soạn thảo dự luật. Nhưng các quan chức GOP đã bắt đầu đe dọa "xem xét lại" việc bầu ứng cử viên cho đảng đối với thượng nghị sĩ bang Iowa này. Tới cuối mùa hè năm ngoái, Grassley không chỉ dần rời xa cuộc cải cách; mà ông còn ám chỉ rằng Obamacare sẽ thất bại.

Quá trình này cứ diễn ra theo chiều hướng đó gần như cả năm 2009, và thái độ của công chúng ngày càng trở nên gay gắt hơn. Theo một cuộc thăm dò ý kiến của NBC/Wall Street Journal, tỷ lệ người Mỹ cho rằng Obama hoàn thành rất tốt mục tiêu của mình đã giảm một nửa so với mức tháng giêng 2009, và số người tin rằng ông đang thay đổi thành công "kiểu kinh doanh thông thường của Washington" cũng giảm đáng kể.

Đảng Cộng hòa đã sử dụng sự bất tín nhiệm ngày càng lớn với chính phủ không chỉ để làm què quặt "công cuộc" cải cách chăm sóc y tế mà còn để phá hỏng các sáng kiến khác của Obama.

Frank Luntz, người chuyên làm các cuộc thăm dò ý kiến của đảng Cộng hòa đã chỉ ra cách để vượt qua quy định mới đối với Phố Wall và lôi kéo những người được thăm dò tấn công vào các điều được đưa ra trong dự luật cải cách tài chính (mà theo ông chỉ nhằm để "ghi điểm" khi vận động hành lang) cũng như chăm sóc y tế, chủ yếu để thu hút đủ số phiếu của đảng Dân chủ để đập tan ý đồ ngăn cản dự luật được thông qua của GOP.

60 phiếu sẽ khiến cho cuộc tranh luận đối với bất cứ chương trình nghị sự nào trở nên dài và gian nan hơn, đó chính là những gì mà đảng Công hòa cần.

Cuối tháng trước, khi Quỹ gia đình Kaiser tiến hành thăm dò ý kiến về cải cách chăm sóc y tế, tổ chức nhận thấy rằng, đa số người dân vẫn ủng hộ một phần riêng biệt nào đó trong nỗ lực của Obama. Nhưng sự nhiệt tình đối với chính dự luật - mà nội dụng của nó đối với công chúng vẫn còn rất mơ hồ - đã nhạt đi, chỉ như năm 1993.

Theo cuộc thăm dò mới của CNN/ORC, sự ủng hộ của người dân đối với Quốc hội đã xuống mức thấp nhất kể từ thời Gingrich. Một lần nữa, đảng Cộng hòa lại nói với người Mỹ, họ không thể tin tưởng vào chính phủ ở chương trình chăm sóc y tế, và một lần nữa, hành động của họ đã giúp thuyết phục được người Mỹ rằng những gì họ nói là đúng sự thật. Vậy là đã rõ một chiếc vòng luẩn quẩn.

* Người dẫn chương trình trên đài, nhà bình luận chính trị bảo thủ, và lãnh đạo tư tưởng nhiều ảnh hưởng trong phong trào bảo thủ ở Mỹ.

Đình Ngân dịch từ Time

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang