Một buổi sáng tại Kandahar, Taliban xuất hiện khắp các phố. Dễ dàng nhận ra chúng qua những chiếc khăn trắng hay đen, bộ dâu dài, hay mắt kẻ chì, lái xe tải Toyota, và lao nhanh qua các nút giao thông, gần như muốn đâm vào các xe bán hàng trên đường. Chúng hành xử cứ như nơi này là của riêng chúng vậy. Năm năm sau, khi quân đội Mỹ buộc Taliban đầu hàng, chúng đã trở lại. Thực tế, chúng chưa bao giờ thực sự đầu hàng. Chúng rút quân và ẩn trốn trong hầm, trên núi, chờ đợi cho tới khi thế giới lãng quên Afghanistan.
Trên con phố đó, Malala Kakar, 40 tuổi, đang chuẩn bị cho 6 đứa con tới trường: cài khuy áo, và mặc áo phông cho chúng. Trong lúc đó, chúng tranh thủ véo những miếng bánh trên bàn. Đứa lớn tuổi kéo khóa cho đứa nhỏ hơn; các bé gái buộc tóc cho nhau. Mọi thứ đã sẵn sàng, Malala mở cửa và ngắm nhìn những đứa con dần khuất bóng trên con đường tới trường. Cô quay vào nhà và khóa cửa lại.
Còn lại một mình trong căn nhà, Malala đi nhanh vào phòng và quay ra cùng một khẩu AK-47. Cô lấy một hộp đạn từ trên kệ và bắt đầu nạp đạn, kiểm tra chốt an toàn và nhìn đồng hồ. Có một tiếng gõ cửa. Đó là đồng sự của Malala, người vẫn đưa cô đi làm mỗi ngày từ 5 năm nay. Anh bảo vệ cô, đảm bảo rằng họ không bao giờ đi trên cùng một con đường trong hai ngày liên tiếp. Rất thận trọng, Malala giữ chặt khẩu AK-47, nhanh như chớp, cô lẻn ra khỏi cửa.
Những hành động rất bí mật, nhưng Malala không phải là cảnh vệ, cũng không phải là gangster. Tại Afghanistan, cô là một cái gì đó nguy hiểm hơn: một trong số những phụ nữ đầu tiên tham dự và tốt nghiệp tại Học viện Cảnh sát Kandahar, và là người phụ nữ đầu tiên trở thành điều tra viên của Sở cảnh sát Kandahar.
Đó là một sự kiện lịch sử, một minh chứng cho sự trở lại của phụ nữ tại Afghanistan - một đất nước nơi phụ nữ bị kìm hãm từ bao đời nay. Hầu như mỗi sáng, trước khi đánh thức các con, cô lén nhìn ra cửa xem có thấy "bức thư đêm" nào của Taliban đe dọa sẽ giết cô không. Cô tránh không để cho những đứa trẻ nhìn thấy. Trước những câu trong thư đại loại như "Từ bỏ hay...", cô thường chỉ cười nhạt và nói "Tất nhiên, tôi sẽ không từ bỏ".
Trong Sở cảnh sát Kandahar, một ngôi nhà vuông bằng bê tông được xây dựng với những ô cửa sổ nhỏ, Malala là người đứng đầu đội cảnh sát ở đây. Chiếc áo buốc-ca trùm kín từ đầu tới chân được thay bằng bộ sắc phục mạnh mẽ. Những bộ sắc phục rõ ràng là chưa bao giờ được thiết kế dành riêng cho những nữ cảnh sát ở phòng cô.
Kandahar là một trong những thành phố kinh hoàng nhất trên thế giới. Dù cho quân đội Mỹ và NATO có đều đặn tuần tra trên các phố thì Taliban vẫn xuất hiện ở khắp nơi. "Hầu như đêm nào chúng cũng xuất hiện trên phố" - Malala nói. "Chúng phải chịu trách nhiệm về các vụ thảm sát và đánh bom tại các trụ sở cảnh sát và các cuộc nã đạn cối vào cơ sở của NATO". Người dân địa phương sống trong sợ hãi còn người nước ngoài thì phải tự bảo vệ mình và sống đằng sau các bức tường cao được quân đội bảo vệ. Cảnh sát được tăng cường tại các chốt. Hầu như mọi người đi trên phố đều mang vũ khí theo mình.
Khung cảnh Afghanistan thật hoang tàn, đổ nát. Mọi thứ đều bị biến dạng. Các tòa nhà lỗ chỗ vết tích súng cối, tên lửa hay súng tự động. Phần lớn cửa sổ tại Kandahar được thay thế bằng gạch. Tại giao lộ giữa khu người Pakistan và Afghanistan, thuốc phiện tràn ngập, một thành phố của các băng đảng ma túy, buôn lậu và những kẻ giết người. Taliban vẫn tiếp tục bảo trợ cho những kẻ đánh bom cảm tử.
Hai thập kỷ trước, Kandahar còn là một trung tâm thương mại sầm uất, nơi các thương nhân Pakistan ghé qua đây trên đường tới Iran và Iraq. Bây giờ, mọi người biết tới Kandahar là nơi sản sinh ra tinh thần người Hồi giáo, đẩy Liên bang Nga rời khỏi đây sau mười năm để áp đặt luật lệ Hồi giáo. Phụ nữ là đối tượng đặc biệt phải tuân theo đạo luật này. Những câu chuyện về họ ai cũng biết: họ bị cấm đi làm, đi học, bị cấm ra khỏi nhà mà không có thành viên nam trong gia đình đi theo. Và dĩ nhiên, họ phải mặc áo của người đạo Hồi - áo choàng buốc-ca.
Malala gia nhập lực lượng cảnh sát được 7 năm. Khi Taliban trở lại nắm quyền. Ngay lập tức, "tinh thần cảnh sát" mà cô vẫn theo đuổi bị vi phạm trắng trợn bởi luật đạo Hồi. Cô trốn sang Pakistan và ở lại đó mười năm. Trong thời gian này, cô đã gặp chồng mình, một nhân viên Liên Hợp Quốc và là một người đàn ông "hiện đại" theo cách gọi của cô. Rồi họ bắt đầu một cuộc sống gia đình.
Sau đó, quân Taliban bị đánh bại, Malala trở về Kandahar với công việc cảnh sát mà cô yêu thích. Đội cảnh sát nữ tại Kandahar là mục tiêu mà Taliban hay bất cứ phe phái nào không mong muốn sự tiến bộ của phụ nữ muốn trừ khử. Đi du lịch họ cũng phải có cảnh vệ đi theo, lúc nào cũng phải lo lắng cho sự an nguy của gia đình. "Tôi sống trong khu vực quân đội để cố gắng giữ an toàn" - Malala nói. "Đây không phải là công việc dễ dàng, nhưng quan trọng là phụ nữ phải làm việc đó. Chúng tôi phải là một phần của đất nước Afghanistan mới".
Malala chỉ ra rằng phụ nữ tham gia thi hành luật pháp không chỉ cho chính họ mà còn cho hàng nghìn phụ nữ khác ở Kandahar, những người đã không nhận được sự trợ giúp từ phía cảnh sát vì cộng đồng Hồi giáo không cho phép đàn ông tiếp xúc quá thân mật với phụ nữ không quen biết. Đôi khi, Malala được gọi tới để giúp đưa một người phụ nữ bị thương tới bệnh viện. Cũng có khi, cô và các nhân viên nữ khác phải tập hợp một số phụ nữ để cảnh sát nam truy tìm kẻ tình nghi.
Trong phòng, chân dung tổng thống Afghanistan Hamid Karzai được treo trân trọng. Một giá đỡ treo áo buốc-ca đặt ở góc phòng cùng bộ bàn ghế để toàn đội nghỉ ngơi. Cô thường xuyên nhận được những "bức thư đêm" của Taliban. "Không được làm việc cho chính phủ!" hay "Bỏ việc ngay và đừng có mà ra khỏi nhà!". Họ cười phá lên khi đọc những bức thư này.
Phòng của đội nữ cảnh sát nằm phía trong sở cảnh sát, cách xa đường phố và rất khó để tấn công. Malala là người lãnh đạo đội này. Nhiều tháng sau sự sụp đổ của Taliban, cô đi quanh Kandahar và vùng phụ cận để tuyển mộ thêm nhân viên. "Đôi khi tôi phải nói dối để kéo họ vào làm việc" - Malala nói và châm một điếu thuốc khác. "Tôi nói với họ rằng không nguy hiểm đâu hay tiền kiếm được cũng kha khá. Tôi làm những gì phải làm để họ gia nhập đội của tôi".
Gia đình Malala có 5 anh em. Cha cô, Gul Mohammed Kakar, tham gia lực lượng cảnh sát năm 1982. Mười lăm tuổi, Malala đã gia nhập học viện. "Cha tôi nói rằng tôi phải làm việc và phải là một cảnh sát" - cô nhớ lại. "Ông không bao giờ coi tôi khác với các anh em trai của mình". Như để chứng minh, Malala vén tay áo và chỉ vào một vết sẹo.
Có thời điểm, cô được cử theo dõi một kẻ tình nghi trong vùng đất của Taliban với hàng chục cảnh sát nam khác. "Khi các thành viên Taliban phi mô tô tới, chúng bắn vào chúng tôi" - cô nói - "Nhiều cảnh sát lập tức nhảy vào xe và rút về trạm". Malala và 3 cảnh sát khác ở lại chống trả. Sau vài giờ chống trả quyết liệt với hàng chục tên Taliban, cuối cùng chúng đã rút lui. "Trở về đội, tôi rất tức giận và nói với những cảnh sát đã bỏ chạy rằng “Các anh có râu dài, nhưng các anh không dũng cảm”. Đó là một câu thành ngữ của Afghanistan. “Các anh đã bỏ rơi chúng tôi'". Lúc đó họ rất xấu hổ.
Là một nữ cảnh sát, Malala có thể nói chuyện trực tiếp với những phụ nữ là nạn nhân của bạo hành. "Những điều tôi làm là những điều đàn ông không muốn tôi làm" - cô nói. "Có trường hợp, khi tôi gõ cửa, bọn trẻ đã không cho tôi vào. Vì mặc áo buốc-ca, nên tôi nói rằng tôi là dì của chúng đã thất lạc từ lâu, khi đó chúng mới chịu mở cửa". Khi Malala bước vào và xem xét ngôi nhà, cô phát hiện thấy một phụ nữ cùng con trai bị trói chặt tay chân. Họ đã sống sót sau mười tháng chỉ với ít bánh mì và nước lã. Đó là một phụ nữ, một góa phụ, sau khi chồng mất, theo luật, cô được người anh trai chồng nhận cưới nhưng sau đó ly dị. Đó là một điều cấm kỵ, suốt phần đời còn lại, cô sẽ bị ruồng bỏ. Khi cô đi thu dọn đồ đạc định trốn đi, họ đã bắt cô và con trai nhốt vào trong cũi để giam giữ.
"Taliban có thể đe dọa tôi," - Malala nói - "nhưng những câu chuyện như vậy xảy ra với phụ nữ làm tôi day dứt". Tuy nhiên, giải quyết những vấn đề về hôn nhân không hề dễ dàng. "Ly dị trên đất nước tôi là điều không thể chấp nhận được, chúng ta phải tìm một giải pháp. Tôi luôn cố gắng thuyết phục người chồng hứa sẽ phải chăm sóc chu đáo cho vợ mình".
Khi Malala nói xong, mọi người trong phòng khẽ liếc Anar Gul, 47 tuổi. Malala đã tìm thấy Anar bị trói dưới tầng hầm, cô trở thành nô lệ của người anh chồng. (Chồng đầu tiên của cô đã chết và cô buộc phải tái hôn với người anh trai của chồng, một người nghiện ma túy). Malala nhớ lại, cô bước vào nhà Anar với một chiếc gậy trên tay cùng một khẩu súng ngắn, cô đã đánh bại anh ta. Khi được hỏi làm thế nào cô đánh bại được một người đàn ông to lớn gấp đôi mình như vậy, cô trả lời: "Tôi di chuyển nhanh và đấm hắn ta, nếu hắn không chịu dừng lại tôi sẽ giết hắn".
Anar cho chúng tôi xem những vết tích mà cô bị đánh đập dã man. Sau khi Malala cứu được Anar thoát chết, cô đã tìm cho Anar một công việc. Phụ nữ giúp phụ nữ là một dấu hiệu nhỏ hy vọng cho sự đổi thay của một đất nước Afghanistan mới. "Với trường hợp này, đã có một kết thúc có hậu" - Malala nói