Nỗi đau oan khiên

CATPHCM - 

(CATP) Nghị trường Quốc hội vừa “nóng” lên với một số vụ án oan sai do thiếu sót trong quá trình tố tụng. Làm thế nào để không còn nước mắt oan ức sau chấn song là những điều người dân cả nước đang rất trông chờ.

TRỞ VỀ SAU BẢN ÁN BỐN NĂM TÙ

Giữa năm 2008, một người đàn ông tóc bạc phơ, dáng vẻ thẫn thờ cầm xấp đơn đến tòa soạn Báo CATP kêu cứu. Ông tên Đ.Đ (làm nghề chụp ảnh ở Bình Dương) đi kêu cứu cho con gái là Đ.G.A (SN 1982), người từng đoạt giải khuyến khích cuộc thi Tiếng hát truyền hình TPHCM năm 2006. Cô bị TAND thị xã Thủ Dầu Một phạt bốn năm tù và ra lệnh bắt giam tại tòa về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

TS Trần Phú Vinh

Theo hồ sơ mà người cha tội nghiệp cung cấp, sáng 14-11-2005, bà B. - nhân viên phụ trách thanh toán của một công ty - đến chi nhánh một ngân hàng tại Bình Dương làm việc, phát hiện một ủy nhiệm chi ba ngày trước của công ty có “chữ viết lạ”, nội dung chuyển 72 triệu đồng vào tài khoản mang tên T. Bà B. về hỏi bộ phận thanh toán của công ty thì nhân viên N. bảo không viết ủy nhiệm chi này. Kiểm tra, công ty xác định bà T. (người được chuyển tiền) không phải nhân viên công ty, không giao dịch làm ăn với công ty (bà này bị mất chứng minh nhân dân).

Sau đó, bà B. cùng N. đến ngân hàng báo sự việc. Ngân hàng phong tỏa tài khoản tên T. nhưng lúc này tài khoản chỉ còn 12 triệu đồng, 60 triệu đồng đã bị rút qua thẻ ATM. Theo lời của nhân viên ngân hàng tên Diễm thì 3 giờ chiều 11-11-2005, có hai cô gái mang tờ ủy nhiệm chi đến làm thủ tục chuyển tiền. Thấy dưới mục “kế toán trưởng” để trống, Diễm hỏi thì hai cô gái trả lời công ty không đăng ký chữ ký của kế toán trưởng, đồng thời một người ghi “không đăng ký” vào dưới mục này. Kiểm tra trong máy tính, Diễm ngước lên thì không thấy hai cô gái đâu mà lại thấy một nam nhân viên quen mặt của công ty đến làm việc khác. Diễm nhờ xem tờ ủy nhiệm chi, người này xác nhận dấu mộc trên ủy nhiệm chi đúng là của công ty nên Diễm đã thực hiện lệnh chuyển tiền.

Hôm sau, công ty gửi đơn tố cáo đến Công an tỉnh Bình Dương, nghi hai nhân viên cũ, trong đó có A. đã lừa đảo (A. từng làm việc cho công ty, đã nghỉ gần ba tháng trước khi xảy ra vụ việc). Tổ chức giám định Công an tỉnh Bình Dương kết luận chữ viết trên ủy nhiệm chi (ngày 11-11-2005), giấy đề nghị mở tài khoản cá nhân tên T. (ngày 16-9-2005) và giấy nộp tiền vào tài khoản T. (ngày 3-10-2005) để kích hoạt tài khoản) là chữ viết của A. Riêng ba chữ “không đăng ký” viết dưới mục “kế toán trưởng ký” trên ủy nhiệm chi là của N.

Ca sĩ A. tại tòa phúc thẩm cuối năm 2008

Từ đó, A. và N. bị khởi tố về tội lừa đảo. A. khai chữ viết trên ủy nhiệm chi, giấy đề nghị mở tài khoản cá nhân tên T., giấy nộp tiền vào tài khoản T. do mình viết khi còn làm việc ở công ty theo sự chỉ đạo của bà B. Sau khi nghỉ việc, A. không biết gì nữa. Còn N. trước sau đều nói chữ “không đăng ký” trên ủy nhiệm chi không phải do mình viết.

Ngày cưới

Giám định lại, tổ chức giám định Công an Bình Dương vẫn khẳng định đó là chữ viết của N. Sau đó, kết quả giám định của Phân viện Khoa học hình sự (Bộ Công an) kết luận, chữ viết trên ủy nhiệm chi, trên giấy đề nghị mở tài khoản tên T., giấy xác nhận lấy thẻ ATM tên T., giấy nộp tiền vào tài khoản đều do A. viết.

Trong vụ này, bằng chứng kết tội A. là bút tích trên các giấy tờ trên nhưng A. nói mình đã viết khi còn làm ở công ty theo yêu cầu của bà B. Đây vốn là việc A. vẫn thường làm hàng ngày theo lệnh cấp trên như một thư ký. Điều này lý giải vì sao phần ghi ngày tháng trên các giấy tờ đó đều không phải do A. viết.

Tòa sơ thẩm bác lời khai của A. rằng, chữ viết trên giấy đề nghị mở tài khoản tên T. được A. viết khi còn làm cho công ty theo yêu cầu của bà B. (trước tháng 8-2005) vì đại diện ngân hàng khẳng định giấy này phát hành trong ngày 16-9-2005 (dưới giấy có in ngày giao dịch bằng máy tính). Tuy nhiên, cha bị cáo đã chứng minh mẫu giấy mở tài khoản ở ngân hàng không hề ghi ngày trước: “Chúng tôi thử lấy mẫu giấy mang về điền nội dung, sau đó đem nộp ngân hàng. Nhân viên ngân hàng kiểm tra xong mới cho máy tính in ngày giờ vào phía dưới”.

Đặc biệt, A. khai suốt ngày 11-11-2005 (ngày giao dịch chuyển tiền tại ngân hàng), cô đi hát ở nhiều tiệc cưới, không thể có thời gian trống để đi ngân hàng. Cha bị cáo còn cho biết ngay từ lần nhận diện đầu tiên, nhân viên ngân hàng tên Diễm đã khẳng định A. không phải là một trong hai cô gái đến ngân hàng thực hiện ủy nhiệm chi. Tuy nhiên, bản án đã không đề cập đến các tình tiết đó.

Báo CATP số 1969 ngày 25-9-2008 phân tích chuyện cô ca sĩ Đ.G.A bị tòa án thị xã kết án là còn nhiều điểm chưa rõ. Sau đó, nhiều cơ quan truyền thông khác vào cuộc. Tại phiên phúc thẩm, cô ca sĩ nhoẻn miệng cười với chúng tôi với hy vọng công lý sẽ được thực thi. Thật may là đại diện viện kiểm sát, giữ quyền công tố đã bác bỏ những chi tiết mâu thuẫn trong bản án sơ thẩm và đề nghị chủ tọa hủy án sơ thẩm để điều tra lại.

Chiều 9-1-2009, Đ.G.A được cơ quan điều tra Công an thị xã Thủ Dầu Một cho tại ngoại sau gần sáu tháng tạm giam. Mừng hơn trúng số độc đắc, ông Đ. không cần yêu cầu bồi thường, ôm lấy cô con gái bé bỏng.

Năm 2010, ông Đ. gửi thiệp cưới mời chúng tôi lên Bình Dương dự đám cưới của con gái ông. Đó là một kết thúc có hậu cho cô ca sĩ đã tìm được bến bờ hạnh phúc.

Quyền có luật sư và quyền im lặng

Từ sai sót trong một số vụ án gần đây, chúng tôi có cuộc trao đổi với TS Trần Phú Vinh - Phó trưởng phòng Đào tạo, nguyên giảng viên khoa Luật quốc tế, ĐH Luật TP.Hồ Chí Minh - người đã có nhiều năm hành nghề luật tại Anh quốc.

Tại vương quốc Anh, mặc dù luật về trật tự công cộng và tư pháp hình sự năm 1994 đã bỏ “quyền im lặng” theo truyền thống, nhưng khi bị bắt giữ tại đồn cảnh sát, nghi phạm chỉ phải cung cấp tên, địa chỉ và ngày sinh. Cảnh sát có quyền lấy dấu vân tay, mẫu DNA, chụp hình và ghi nhận các dấu hiệu như: chiều cao, cân nặng, màu mắt, màu tóc, khuôn mặt, dáng người, các hình xăm, sẹo, cỡ giày, tay thuận. Đồ dùng cá nhân sẽ bị tạm giữ, được ghi trong danh mục hồ sơ lưu ký, nghi phạm ký tên và được lưu vào máy tính. Nghi phạm có quyền từ chối ký nếu trong danh mục đó có những vật dụng không phải của mình. Cảnh sát có nghĩa vụ phải hỏi nghi phạm một loạt các câu hỏi về sức khỏe (có bị bệnh gì không, có đang phải dùng thuốc gì không); có cần phải thông báo cho người thân biết là đang bị tạm giữ tại đồn cảnh sát không; có cần phải thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự biết không (nếu nghi phạm là người nước ngoài); và điều đặc biệt quan trọng là có cần luật sư (LS) không. Nếu có LS riêng thì cảnh sát sẽ liên lạc với LS của nghi phạm. Nếu không có LS riêng thì cảnh sát sẽ liên lạc với các văn phòng LS trong khu vực yêu cầu LS chỉ định cho nghi phạm. Việc có LS bảo vệ quyền lợi khi bị tạm giữ tại đồn cảnh sát là hoàn toàn miễn phí. Sau đó nghi phạm bị đưa vào phòng tạm giữ (một người/phòng) cho đến khi LS có mặt.

Trước khi tiến hành hỏi cung, điều tra viên (ĐTV) làm việc với LS, đưa cho LS những bằng chứng và câu hỏi sẽ hỏi nghi phạm. LS được quyền gặp nghi phạm để tư vấn (không hạn chế thời gian) trước khi việc hỏi cung bắt đầu. LS hướng dẫn trình tự và thủ tục khi bị hỏi cung, giải thích các quyền đồng thời yêu cầu nghi phạm trả lời các câu hỏi sẽ được hỏi. Sau khi nghe xong, LS tư vấn cho thân chủ: im lặng hoặc trả lời. Nghi phạm tự quyết định.

Việc hỏi cung sẽ được tiến hành tại phòng kín do hai ĐTV thực hiện có ghi âm/hình. Trước tiên, ĐTV bật thiết bị ghi âm/hình với băng/đĩa còn nguyên niêm phong; giới thiệu các thành viên tham gia: tên, số hiệu của hai ĐTV; hỏi nghi phạm tên, địa chỉ và ngày sinh (nghi phạm phải trả lời nội dung này); tên LS, người phiên dịch (nếu nghi phạm là người nước ngoài), người bảo hộ (nếu nghi phạm là trẻ em). ĐTV yêu cầu nghi phạm xác nhận tổng số người có mặt trong phòng. ĐTV thông báo quyền của nghi phạm, tạm dịch: “Ông/bà có quyền im lặng, nhưng điều đó có thể gây bất lợi cho việc bào chữa của ông/bà nếu ông/bà không trả lời khi được hỏi nhưng sau đó trả lời tại tòa. Bất cứ điều gì ông/bà nói có thể được coi là bằng chứng”. Nội dung của quyền này bao gồm: quyền im lặng, có nghĩa là nghi phạm được quyền không trả lời bất cứ câu hỏi nào hoặc chỉ trả lời không ý kiến cho tất cả các câu hỏi.

Nếu không trả lời thì nghi phạm có thể gặp bất lợi nếu vụ việc được đưa ra tòa và khi đó nghi phạm mới trả lời các câu hỏi thì tòa sẽ chất vấn nghi phạm tại sao lại không trả lời cho ĐTV. Nếu lời khai cho ĐTV khác và khi ra tòa khai nội dung khác thì tòa sẽ hỏi tại sao và tòa có thể sẽ không tin lời khai tại tòa của nghi phạm. Tất cả lời khai của nghi phạm có thể được coi là bằng chứng, nghĩa là việc hỏi và trả lời được ghi âm/hình thành hai băng/đĩa.

Tiếp theo phần thủ tục bắt buộc này là các câu hỏi của ĐTV. Nếu nghi phạm chọn cách im lặng thì ĐTV hỏi hết tất cả các câu hỏi rồi tuyên bố kết thúc buổi hỏi cung. Nếu nghi phạm chọn cách trả lời thì chỉ trả lời những câu hỏi như đã được thông báo trước cho LS. Nghi phạm có quyền dừng việc hỏi cung bất cứ lúc nào để trao đổi riêng với LS trước khi trả lời và LS có quyền yêu cầu dừng việc hỏi cung nếu ĐTV hỏi những câu hỏi không liên quan hoặc chưa thông báo trước câu hỏi đó cho LS.

Kết thúc phần hỏi cung, ĐTV niêm phong một băng/đĩa có chữ ký của hai ĐTV, nghi phạm, LS và sẽ được gửi cho tòa nếu vụ án được đưa ra tòa. Một băng/đĩa dùng để phục vụ cho cảnh sát, sao chép cho LS (bắt buộc), nghi phạm (nếu có yêu cầu). Việc hỏi cung có thể được tiếp tục trong thời gian nghi phạm bị tạm giữ tại đồn cảnh sát và thủ tục sẽ được lặp lại như trên. Việc tạm giữ nghi phạm với vụ án đơn giản là 24 giờ và lãnh đạo đồn cảnh sát đó có quyền gia hạn thêm tối đa 12 giờ. Đối với vụ án phức tạp (ví dụ giết người) thì việc tạm giữ nghi phạm tối đa là 96 giờ và do tòa án quyết định.

Từ thời điểm kết thúc việc hỏi cung, ĐTV không có quyền tổ chức bất cứ buổi hỏi cung nào nữa cho đến khi vụ án được đưa ra tòa nếu nghi phạm bị khởi tố. Vì vậy việc mớm cung, ép cung là hoàn toàn không có và không thể thực hiện được.

Bồi thường 81 ngày tạm giữ = 686 triệu đồng

Chiều 22-11-2013, Viện kiểm sát tỉnh Quảng Trị đã mời bà Đào Thị Hồng (trú xã Hải Thượng, Hải Lăng) đến để bồi thường bản án oan sai theo Luật bồi thường trách nhiệm của Nhà nước. Bà Hồng được nhận tiền bồi thường là 686 triệu đồng. Trong khi mức yêu cầu của bà là hơn 1,6 tỷ đồng. Trước đó, tháng 1-2010, bà Hồng bị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt vì tội trộm cắp tài sản, bị tạm giam 81 ngày. Nhưng sau đó, tòa sơ thẩm và phúc thẩm của tỉnh này đều tuyên bà Hồng vô tội.


Tin mới