LTS: Trước đây, khi Văn nghệ Công an in bài viết của tác giả Thy Hảo Trương Duy Hy, khẳng định nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên xuất bản tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ, đã có ý kiến nêu rằng, danh hiệu đó phải thuộc về nữ sử Đạm Phương. Bài viết sau đây của tác giả Trương Duy Hy giải thích từ căn cứ nào ông đưa ra kết luận trên. Tòa soạn mong nhận được ý kiến trao đổi của các nhà nghiên cứu và bạn đọc về vấn đề này.
Tôi đã có dịp đề cập đến trong buổi giới thiệu sách tại Thư viện tổng hợp Đà Nẵng do thành phố tổ chức ngày 31/5/2011. Hôm đó do thời gian cuối giờ, tôi chỉ tóm lược không hết ý.
Nay, tôi xin trình bày rõ điều khẳng định ở bìa sách "Huỳnh Thị Bảo Hòa là người phụ nữ đầu tiên sử dụng quốc ngữ và xuất bản tiểu thuyết "Tây phương mỹ nhân":
1. Tôi căn cứ theo nhận định, đánh giá của bốn người viết lời tựa cho sách tiểu thuyết "Tây phương mỹ nhân" và "Chiêm thành lược khảo" là bốn vị sống, làm việc cùng thời với nữ sử Đạm Phương và nữ sĩ Bảo Hòa. Đó là các vị: Huỳnh Thúc Kháng - Tiến sĩ Trung kỳ nhân dân viện, Viện trưởng; Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu - nhà thơ; Bùi Thế Mỹ - Bỉnh bút Đông Pháp thời báo; Phạm Quỳnh - Giáo dục Bộ Thượng thư. Cả bốn vị này đều ca ngợi vị trí tiên phong của bà Bảo Hòa. "Bảo Hòa là nữ sĩ có công vỡ núi mở đường, thật không những ngọn cờ tiên phong cho đạo quân "nương tử" trong làng quần thoa, mà cũng là tiếng trống trên thành phu nhơn làm một tay nữ tướng quân kình địch cho đám mày râu trong trường văn trận. Bạo dạn thật! Khó nhọc thật!" (Huỳnh Thúc Kháng); hoặc "... lại là vở tiểu thuyết thứ nhất của trong bạn quần thoa mới soạn ra..." (Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu); "Song có một điều là nếu pho sử văn học của nước nhà mà có ngày xuất thế, thì tôi tin rằng tiểu thuyết "Tây phương mỹ nhân" của bà Vương Khả Lãm đây cũng sẽ được liệt vào trong thời kỳ thứ nhất của mục Văn tiểu thuyết đàn bà vậy..." (Bùi Thế Mỹ); "Nhưng các sách của trường Bác Cổ là bằng chữ Pháp cả, người không biết chữ Pháp thời không đọc được. Nay bà Bảo Hòa tham bác các sách, lược thuật những điều cốt yếu ra quốc ngữ, cho nhiều người đọc được, thật là một việc có ích" (Phạm Quỳnh).
2. Tôi căn cứ vào sự công bố (gọi là khai sinh công trình của tác giả, soạn giả) trên các từ điển xuất bản trong nước. Cụ thể, Nguyễn Bá Trác viết "Hạn mạn du ký" trên Nam Phong tạp chí từ số 38 đến số 43, nhưng mãi đến năm 1921 Nguyễn Tiên Sinh mới gom lại in thành sách "Hạn mạn du ký" (in tại Đông Kinh ấn quán Hà Nội) thì từ điển xếp ông cho ra đời "Hạn mạn du ký" là năm 1921 chứ trước đó không kể.
Bà Bảo Hòa viết bao giờ không biết, nhưng in "Tây phương mỹ nhân" năm 1927, nên từ điển công bố năm sáng tác của bà là năm 1927.
Còn nữ sử Đạm Phương đã từng viết trên tạp chí Nam Phong (Phạm Quỳnh chủ trương) nhiều bài từ rất lâu như "Tự thuật Cảnh Hương Giang buổi chiều" (tháng 7/1918), "Ngày xuân đi chơi núi" (3-1919); "Viếng cụ Nguyễn Bá Học" (9/1921)...; "Vịnh Hai bà Trưng - Bà Triệu Ẩu - Bà Mị Châu" (tập IX, 50, 160). Riêng tiểu thuyết "Kim tú cầu" in nhiều kỳ trên báo Trung Bắc Tân Văn từ số báo ra ngày 25/5 đến 21/7/1923, nhưng mãi đến năm 1928 Đạm Phương mới gom những bài đã viết trên báo, tập hợp thành tác phẩm "Kim tú cầu". Do vậy, trong từ điển "Tác phẩm văn xuôi Việt Nam" do Vũ Tuấn Anh - Bích Thu chủ biên, NXB Giáo dục ấn hành năm 2006, tại phần "Bảng tra cứu tác phẩm - Xếp theo thứ tự năm xuất bản", trang 951 tập 1, thì "Kim tú cầu" ra đời năm 1928 - xin được trích một số như sau:
Với những cứ liệu như trên, bạn đọc có thể cảm nhận một cách rõ ràng, về văn viết, người ta chỉ tính thời điểm khai sinh của nó là thời điểm in ấn thành sách. Điều này cũng chẳng có gì là khó hiểu, bởi khi viết từng bài báo thì có thể còn những khiếm khuyết nên khi in thành sách, người viết phải tu bổ hoàn chỉnh mới cho in, vì vậy tính từ khi phổ biến sách là chuyện hợp lý.
3. Theo phát biểu của ông Hoàng Hương Việt (nguyên Giám đốc NXB Đà Nẵng) tại buổi trao đổi 31/5/2001 thì: "Thời điểm các bà Đạm Phương, Bảo Hòa hoạt động cho phong trào phụ nữ, rồi viết báo viết sách bằng Việt ngữ (kể cả sách gia chánh...) ở ngay trước mũi các cây đại thụ Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Quỳnh... nhất là hai vị nầy đều làm việc tại Huế thời đó, chẳng lẽ cả hai vị nầy không biết nữ sử Đạm Phương khi nữ sử Đạm Phương làm dâu cho Đại tộc "Nguyễn Khoa" - một đại tộc danh gia thế phiệt giữa chốn kinh thành, lẽ nào cả hai vị đều không quen, không biết, ấy thế mà cả hai đều không có lời giới thiệu, lời nói đầu nào viết cho sách của nữ sử Đạm Phương, khiến bạn đọc càng thấy có lý khi và chỉ khi sách phát hành mới kể ngày đó, năm đó là ngày, là năm khai sinh sáng tác của nhà soạn ra sách vậy".
4. Đối với nữ sử Đạm Phương, chỉ cần tham khảo tác phẩm "Đạm Phương nữ sử 1881 - 1947" do Nguyễn Khoa Diệu Biên - Nguyễn Cửu Thọ biên soạn, NXB Trẻ ấn hành năm 1995, chúng ta sẽ biết một cách cụ thể về sáng tác của nữ sử. Chỉ kể từ tháng 4/1918 đến 6/3/1929, nữ sử đã viết 155 bài báo trên rất nhiều tờ từ Nam Phong, Hữu Thanh, Trung Bắc Tân Văn, Tiếng Dân, Phụ nữ Tân văn. Điều này không thể nghĩ rằng Phạm Quỳnh không biết tôn danh nữ sử thời đó, nhất là bà được Phạm Quỳnh sử dụng bài trên Nam Phong từ khá lâu. Nhà thơ, nhà báo Thanh Thảo khi viết loạt bài "Nhà báo nữ hàng đầu Việt Nam 90 năm trước" công bố trên Báo Thanh niên hồi tháng 6/2011 cũng chỉ khẳng định vai trò người phụ nữ Việt Nam đầu tiên tham gia viết báo bằng chữ quốc ngữ của bà Đạm Phương (chứ không nói bà là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên viết tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ). Có lẽ vì tiểu thuyết "Kim tú cầu" đến năm 1928 mới in thành sách nên nhà thơ Thanh Thảo có sự cẩn trọng vậy?
Từ bài viết của các nhà nghiên cứu hiện đại như: Vũ Tuấn Anh, Bích Thu, Nguyễn Q Thắng, Hoàng Hương Việt, Ngô Toàn, Lê Duy Anh (có cùng nhận định như các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Tản Đà, Bùi Thế Mỹ, Phạm Quỳnh), chúng tôi vẫn muốn khẳng định lại:
- Nữ sử Đạm Phương là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên viết báo làm báo bằng chữ quốc ngữ từ năm 1918.
- Nữ sĩ Bảo Hòa là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên in tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ "Tây phương mỹ nhân" từ năm 1927.
Đà Nẵng, vào Đông 2011
