Niềm tin và kỳ vọng phát triển

Xem tin gốc 

VIR - 4 tháng trước 22 lượt xem

(baodautu.vn) Dịp Xuân mới, Đại sứ Pháp, Đức, Nhật Bản, Đan Mạch và Đại biện Đại sứ quán Australia tại Việt Nam chia sẻ với Báo Đầu tư niềm tin, kỳ vọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, cũng như quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa Việt Nam với các nền kinh tế.

Việt Nam là địa điểm đầu tư hấp dẫn doanh nghiệp Đức”

- Ngài Claus Wunderlich, Đại sứ Đức

Trong những thập kỷ qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế mà Việt Nam đạt được là khá ấn tượng. Kể từ khi Chính phủ Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế, tỷ lệ nghèo đã giảm từ 75% trong giữa những thập niên 80 của thế kỷ XX xuống còn 12% trong năm 2010. Thu nhập bình quân cũng tăng từ xấp xỉ 400 USD năm 2000, lên gấp gần ba lần chỉ sau một thập kỷ, giúp Việt Nam đứng vào hàng các quốc gia có mức thu nhập trung bình.

Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam đã đặt ra một mục tiêu khá tham vọng là trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Tôi nghĩ Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu này nếu Chính phủ Việt Nam tập trung vào một số chính sách phát triển ưu tiên, như cải thiện cơ sở hạ tầng, tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, nên giảm các hình thức bao cấp nhà nước và tăng cường đầu tư. Việc triển khai tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước sẽ cần thời gian và nên được chuẩn bị kỹ lưỡng, thực hiện theo từng giai đoạn.

Ngoài ra, tôi cũng cho rằng, Việt Nam nên tiếp tục cải cách hệ thống ngân hàng và áp dụng các biện pháp giảm lạm phát. Đây chính là các điều kiện tiên quyết để Việt Nam tiến dần đến mục tiêu đặt ra.

Chính phủ Việt Nam cũng nên tập trung vào các ngành công nghiệp mũi nhọn, như năng lượng, giao thông, viễn thông, dầu mỏ và khí đốt, khai thác khoáng sản, nhiên liệu và xây dựng. Đây cũng chính là những vấn đề mà chính nước Đức chúng tôi đã đương đầu sau thời kỳ tái thống nhất nước Đức. Chúng tôi đã đạt được khá nhiều thành công trong các lĩnh vực này và sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với các bạn Việt Nam.

Việt Nam trở thành địa điểm đầu tư ngày càng hấp dẫn hơn trong mắt các doanh nghiệp Đức. Quan hệ thương mại song phương giữa Đức và Việt Nam đã liên tục phát triển, kể từ sau khi tái thiết lập quan hệ ngoại giao từ cách đây hơn 35 năm. Đến nay, Đức đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong cộng đồng châu Âu. Vào tháng 10/2011, Thủ tướng Đức Angela Merkel và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký bản “Tuyên bố chung Hà Nội”, chính thức thiết lập quan hệ đối tác chiến lược giữa hai quốc gia. Bản tuyên bố chung với chương trình hành động chiến lược sẽ tạo nền tảng vững chắc cho việc thắt chặt hợp tác kinh tế song phương trong thời gian tới.

Kể từ khi nhận nhiệm vụ Đại sứ Đức tại Việt Nam (tháng 8/2011), tôi đã chứng kiến một số công ty Đức mở nhà xưởng và văn phòng đại diện tại Việt Nam. Tôi cho rằng, sẽ có nhiều công ty Đức mở rộng thị trường tại Việt Nam trong năm 2012. Trên cương vị Đại sứ Đức tại Việt Nam, tôi sẽ tích cực thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước trong năm tới. Dự án đầu tư quan trọng nhất mà chúng tôi thực hiện tại Việt Nam trong năm 2012 sẽ là dự án xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 tại TP. Hồ Chí Minh. Chúng tôi cũng sẽ xây dựng một “Ngôi nhà Đức’’ tại trung tâm TP.HCM.

Tôi tin tưởng rằng, quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước chúng ta sẽ phát triển mạnh mẽ hơn trong năm 2012.

Mong muốn hỗ trợ Việt Nam trong các dự án lớn”

- Ngài Jean François Girault, Đại sứ Pháp

Thập kỷ vừa qua đánh dấu thành công quan trọng của Việt Nam trong mục tiêu cân bằng giữa phát triển kinh tế và xã hội, đồng thời cũng chứng tỏ khả năng đứng vững trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới. Thành tựu mới nhất là, Việt Nam đã gia nhập vào nhóm các nước có thu nhập trung bình vào năm 2010. Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ vừa qua, cộng đồng các nhà tài trợ đã nhiệt liệt hoan nghênh việc triển khai Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ Việt Nam trong năm 2011 và khuyến khích mạnh mẽ Việt Nam tiếp tục các chính sách tương tự trong năm 2012.

Tuy nhiên, mục tiêu đặt ra cho năm 2012 là rất tham vọng và Chính phủ Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Trước hết là đảm bảo kinh tế vĩ mô ổn định và giữ vững niềm tin vào đồng tiền quốc gia. Đó sẽ là chìa khóa cho một nền kinh tế ổn định và cạnh tranh cao.

Việt Nam đang rất cần thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng dài hạn, để thu hút nhiều đầu tư hơn nữa. Đảm bảo môi trường đầu tư, đặc biệt là sự ổn định của lĩnh vực tài chính, tính minh bạch và môi trường kinh doanh ổn định cũng là những nhiệm vụ quan trọng.

Và cuối cùng, để trở thành một nền kinh tế công nghiệp thì chất lượng nguồn nhân lực là quan trọng hàng đầu. Vì vậy, chúng tôi hy vọng Việt Nam sẽ chú trọng hơn nữa công tác đào tạo kỹ thuật và chuyên môn.

Năm 2012, Pháp sẽ tiếp tục giữ vững sự năng động trong hợp tác thương mại giữa hai nước (tăng 22% trong năm 2011), phối hợp với các cơ quan chức năng của Việt Nam để cải thiện các điều kiện tiếp cận thị trường Việt Nam đối với các sản phẩm của Pháp.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực năng lượng và phát triển hạ tầng, quản lý đô thị của Việt Nam. Pháp có nhiều kinh nghiệm và năng lực trong lĩnh vực này và mong muốn được hỗ trợ Việt Nam trong các dự án lớn. Chúng tôi cũng sẵn sàng phối hợp với phía Việt Nam để tìm nguồn vốn cho các dự án này, đặc biệt là thông qua hình thức đối tác công - tư (PPP). Đặc biệt, chúng tôi mong muốn được nhìn thấy những kết quả cụ thể trong quá trình xây dựng tuyến tàu điện ngầm thí điểm số 3 tại TP. Hà Nội.

Năm 2012, Pháp sẽ tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp Pháp đến Việt Nam tìm hiểu, khám phá tiềm năng to lớn của thị trường này. Cơ quan đại diện thương mại Pháp tại Việt Nam (Ubifrance) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Pháp tại Việt Nam (CCIFV), sẽ tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường Việt Nam, chú trọng các lĩnh vực như giao thông, năng lượng, môi trường, viễn thông và công nghiệp thực phẩm.

Cuối cùng, năm 2012 sẽ là năm bận rộn của hai quốc gia, chuẩn bị kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Pháp, sẽ diễn ra vào năm 2013.

Cần các chính sách xây dựng lòng tin trên thị trường”

- Ngài John Nielsen, Đại sứ Đan Mạch

Việt Nam hiện đang ở “ngã ba” của con đường phát triển. Nếu mong muốn duy trì hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế cao như vừa qua, Chính phủ cần phải có một số quyết định không hề dễ dàng. Và để đạt được mục tiêu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, việc điều chỉnh mô hình phát triển hiện nay là yêu cầu cấp bách.

Trong ngắn hạn, điều quan trọng là Chính phủ cần cung cấp những tín hiệu rõ ràng về các chính sách kinh tế vĩ mô - các tín hiệu này sẽ có thể giúp xây dựng lòng tin trên thị trường và hỗ trợ các doanh nghiệp mới đầu tư vào Việt Nam.

Một điều kiện quan trọng để Việt Nam di chuyển lên nấc cao hơn của chuỗi thang giá trị là phải tăng cường chất lượng của hệ thống giáo dục, ở tất cả các cấp. Chính phủ cũng cần đầu tư nhiều hơn nữa vào cơ sở hạ tầng, như đường xá, bến cảng, hệ thống viễn thông, sân bay và việc sử dụng năng lượng hiệu quả.

Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh rằng, hệ thống pháp lý hoạt động tốt là điều tối quan trọng nếu Việt Nam muốn thu hút và duy trì đầu tư nước ngoài. Nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam có ý chí chính trị để giải quyết những thách thức này, tôi tin rằng Việt Nam sẽ thực hiện được ước mơ của mình là trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020.

Về hợp tác kinh tế, tôi cho rằng, thương mại giữa hai nước đang tăng trưởng tốt. Chúng tôi cũng vừa ký một Tuyên bố chung về Quan hệ Đối tác Chiến lược trong các lĩnh vực Tăng trưởng Xanh, Biến đổi Khí hậu và Năng lượng với Chính phủ Việt Nam.

Cùng thời điểm này, Việt Nam đang bắt đầu đề ra một chiến lược tăng trưởng xanh của riêng mình. Hai bên có thể đẩy mạnh hợp tác, bởi Đan Mạch có nhiều kinh nghiệm, tri thức cũng như có nhiều công ty có năng lực chủ chốt trong các lĩnh vực như sử dụng hiệu quả năng lượng, quản lý nước thải, năng lượng mặt trời và năng lượng gió.

Một số lĩnh vực khác cũng được doanh nghiệp Đan Mạch quan tâm, bao gồm an toàn thực phẩm, giáo dục, dầu và khí đốt, nước sạch và vệ sinh, dệt may, bán lẻ, công nghiệp thực phẩm cũng như những sản phẩm thiết kế thời trang, nhất là khi tầng lớp trung lưu tại các đô thị Việt Nam ngày càng đông.

Việt Nam là một “câu chuyện kinh tế thành công”

- Ông Phillip Stonehouse, Đại diện Đại sứ quán Australia

Cải cách kinh tế mạnh mẽ được bắt đầu thực hiện cách đây 25 năm đã làm thay đổi Việt Nam. Quy mô nền kinh tế Việt Nam đã lớn mạnh gấp 16 lần so với năm 1990, khi mà chính sách đổi mới bắt đầu phát huy hiệu quả. Cải cách đã làm đa dạng hóa nền kinh tế. Năm 1990, gần 40% GDP của Việt nam đến từ ngành nông nghiệp, nay con số này chỉ còn khoảng 20%. Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế này, hàng chục triệu người dân Việt Nam đã thoát khỏi đói nghèo. Đây là một câu chuyện kinh tế thành công.

Để phát triển lên một mức cao hơn, Việt Nam cần tiếp tục cải cách kinh tế mạnh mẽ và quyết tâm, nhằm nâng cao năng suất và sức cạnh tranh trong khu vực và thế giới. Chính phủ Việt Nam đã xác định các lĩnh vực ưu tiên, bao gồm cải cách hệ thống ngân hàng và tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước - để làm cho chúng trở nên hiệu quả hơn và tạo ra một sân chơi bình đẳng cho khu vực doanh nghiệp tư nhân. Các lĩnh vực khác đòi hỏi sự quan tâm lớn, bao gồm nâng cấp mạnh mẽ cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực được đạo tạo bài bản, có trình độ cao.

Về quan hệ giữa hai nước, tôi thấy rằng, mối quan hệ thương mại, đầu tư và đối tác kinh tế giữa Australia và Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Đây là một đóng góp rất quan trọng cho sự phồn vinh của cả hai nước.

Thương mại giữa Australia và Việt Nam đã tăng hơn 10% mỗi năm trong suốt một thập kỷ qua. Trong năm tài khóa 2010 -2011, thương mại hai nước đạt 6 tỉ đô-la Australia. Australia hiện là nước xuất khẩu lúa mì sang Việt Nam nhiều nhất và cũng là điểm đến số một cho dầu thô của Việt Nam. Australia cũng đang là lựa chọn số một cho sinh viên Việt Nam có nhu cầu du học. Ngược lại, Việt Nam cũng dần trở thành điểm đến phổ biến cho du khách Australia.

Các công ty của Australia là những nhà đầu tư lớn trong nhiều lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế Việt Nam. Đại học RMIT và Trung tâm Tiếng Anh tại Đà Nẵng đang hỗ trợ tích cực cho việc giáo dục và đào tạo các bạn trẻ Việt Nam. Về tài chính, Ngân hàng ANZ và Ngân hàng Commonwealth rất năng động tại thị trường Việt Nam. Ngành chế tạo và chế biến chất lượng cao cũng là ngành đầu tư rất quan trọng của Australia vào Việt Nam, với những đại diện như Công ty sản xuất thép Bluescope, Công ty đóng tàu Strategic Marine, Công ty bột mỳ Interflour, Công ty bao bì Visy Packaging.

Ngành dầu khí của Việt Nam ngày càng thu hút đầu tư lớn từ các tập đoàn dầu khí của Australia trong những năm gần đây, như Tập đoàn Santos, Arrow Global, Linc Energy, Neon Energy và Origin Energy.

Triển vọng thương mại và đầu tư giữa Australia và Việt Nam là rất sáng sủa, vì chúng tôi tập trung vào những thế mạnh chiến lược và sự bổ trợ lẫn nhau để hỗ trợ sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Australia cũng đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam thông qua các chương trình viện trợ, trong đó có khoản 160 triệu đô-la Australia cho việc xây dựng cầu Cao Lãnh bắc qua một nhánh lớn của sông Mê Kông và 400 học bổng cho sinh viên Việt Nam học tập tại Australia.

Nhật Bản sẽ đầu tư vào những lĩnh vực mới ở Việt Nam”

- Ngài Yasuaki Tanizaki, Đại sứ Nhật Bản

Để duy trì một nền kinh tế ổn định, tôi cho rằng, thứ nhất, Chính phủ Việt Nam cần coi việc chống lạm phát là một ưu tiên hàng đầu. Sự leo thang giá lương thực, năng lượng và hàng nhập khẩu đã làm suy yếu giá trị của đồng tiền Việt Nam và là một trong những nguyên nhân chính gây ra lạm phát. Ngoài ra, một lượng cung tiền lớn cũng đã làm gia tăng xu hướng lạm phát cao này. Do vậy, việc cần kíp nhất chính là thắt chặt các chính sách tiền tệ và tài khóa để chống lạm phát.

Về chính sách tiền tệ, Chính phủ cần đẩy nhanh việc cải cách ngành tài chính để nhanh chóng ổn định giá trị tiền đồng. Yếu tố lớn nhất gây ra sự sụt giảm giá trị tiền đồng chính là sự thâm hụt tài khoản vãng lai do thâm hụt thương mại gây ra. Do vậy, Việt Nam rất cần tiếp tục thu hút các nguồn vốn ổn định và dài hạn từ nước ngoài; lựa chọn các chính sách phù hợp để tập trung vào mở rộng xuất khẩu, nhằm đảm bảo phát triển kinh tế bền vững.

Chính phủ Việt Nam hiện đang nỗ lực xây dựng đất nước trở thành một quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Tôi nghĩ rằng, Chính phủ cần lựa chọn một chính sách công nghiệp tiên tiến, với các ngành có tính cạnh tranh và giá trị gia tăng cao để thúc đẩy xuất khẩu hơn nữa.

Thứ hai, Chính phủ cần đẩy mạnh kỷ luật tài khóa và giảm thâm hụt ngân sách. Tuy nhiên, rất khó để Việt Nam có thể đảm bảo được kỷ luật ngân sách vì nhu cầu vốn của các bạn ngày càng tăng để phát triển cơ sở hạ tầng cần thiết cho công cuộc công nghiệp hóa đất nước.

Về mặt chi ngân sách, Việt Nam cũng đang phải chi tiêu rất nhiều trong những năm gần đây. Ngay cả khi việc tăng chi tiêu này phần lớn là do hiệu ứng lạm phát như tăng lương, thì Chính phủ cần phải đẩy nhanh cải cách hành chính để giảm chi tiêu.

Về mặt thu ngân sách, hệ thống thuế đối với thuế thu nhập cá nhân cũng phải được cải thiện. Chính phủ cũng cần thiết lập một hệ thống thuế toàn diện, để thu thuế mà không bỏ sót đối tượng nào để đảm bảo công bằng.

Đối với quan hệ giữa hai nước, Nhật Bản tiếp tục cam kết cung cấp ODA cho Việt Nam - khoảng 1,9 tỷ USD trong năm tài khóa 2011. Việt Nam hiện đang sử dụng rất hiệu quả ODA của Nhật Bản. Bên cạnh đó, sẽ có nhiều lĩnh vực hợp tác trọng tâm khác trong năm tới, như đầu tư, kinh tế và đặc biệt là thương mại.

Trong chuyến thăm gần đây của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sang Nhật Bản, hai nước đã thống nhất tăng gấp đôi kim ngạch thương mại hai chiều trong mười năm tới, từ mức 16 tỷ USD năm ngoái. Tuy nhiên, trong tương lai, sẽ cần một cơ chế để thực hiện mục tiêu này. Trong thời kỳ 2000 -2010, kim ngạch này đã tăng 6,5 lần.

Cũng trong chuyến thăm này, hai nước đã thông qua kế hoạch xây dựng một Ủy ban về hợp tác kinh tế toàn diện. Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, Nhật Bản hiện là nhà đầu tư lớn thứ hai tại Việt Nam. Đầu tư Nhật Bản vào Việt Nam đã, đang và sẽ tăng lên và đóng vai trò ngày càng lớn trong sự phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam. Hiện nay, giá trị đồng yên Nhật đang tăng lên, làm cho nhiều doanh nghiệp và nhà đầu tư Nhật Bản có xu hướng đầu tư ra nước ngoài, trong đó có Việt Nam.

Trong khi đó, Việt Nam đang tạo cơ hội tốt cho doanh nghiệp Nhật Bản thông qua sự ổn định chính trị. Tôi nghĩ rằng, đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam sẽ được đa dạng hóa, không chỉ ở những ngành truyền thống (như sản xuất) mà còn vào các ngành mới, như đồ uống, nguyên liệu cơ bản. Hiện một số doanh nghiệp Nhật Bản đã đầu tư vào các dự án hóa dầu, sắt, thép và công nghệ môi trường ở Việt Nam.


Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang