Những xảo thuật trong thanh toán đáo nợ ngân hàng

CATPHCM - 18/05/2010 08:59

Nhung xao thuat trong thanh toan dao no ngan hang

(CATP) Vay đáo nợ ngân hàng hiểu nôm na là đi vay tiền để trả nợ ngân hàng. Việc đáo nợ bị hạn chế vì nó có thể che đậy các khoản nợ có “vấn đề”, trong trường hợp ngân hàng chạy theo doanh số và đồng ý đáo nợ thì tiền vay được tiếp tục cung cấp cho người vay. Tuy nhiên, thực tế đáo nợ cũng có thể mang ý nghĩa khác. Những hệ lụy liên quan đến việc đáo nợ ngân hàng là rất lớn và không thể lường trước được một khi nhân viên của ngân hàng - người trực tiếp móc nối với các “cò” đáo hạn ngân hàng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của khách hàng.

Các tài liệu và đơn tố cáo có liên quan đến Trần Thị Diệu Hồng

Trần Thị Diệu Hồng (tức Hồng “chị Ba”, SN 1978, ngụ khu phố 2, phường 10, TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang) là nhân viên kế toán của một ngân hàng thương mại. Với tấm bằng đại học chuyên ngành kế toán - kiểm toán lại có bảy năm kinh nghiệm công tác nên Hồng đã táo bạo thực hiện hàng loạt vụ chiếm đoạt tiền của khách hàng hết sức ngoạn mục. Từ năm 2002, được giao nhiệm vụ là giao dịch viên, có chức năng chi - thu tiền nợ, tiết kiệm, chuyển khoản..., lợi dụng nhiệm vụ được giao, Hồng đã vay mượn tổng số tiền 2,9 tỷ đồng của sáu khách hàng. Tiền vay, Hồng sử dụng vào mục đích cho vay đáo hạn nợ ngân hàng. Tất cả những người vay tiền đều có giao dịch vay tiền và mở tài khoản tại ngân hàng. Khi đến hạn trả nợ tiền vay, Hồng không có tiền để trả nên lợi dụng nhiệm vụ được phân công là thu tiền nợ của khách hàng, Hồng không hạch toán giảm nợ cho đúng tên người nộp, mà lấy tiền của khách hàng trả nợ vay hạch toán vào các tài khoản của những người mà Hồng vay tiền nhằm giảm nợ vay cho cá nhân mình.

Để lấy được tiền của khách hàng, Hồng dùng thủ đoạn như sau: căn cứ vào nhiệm vụ được phân công, theo qui trình khi khách hàng đến quầy giao dịch nếu trả tiền vay thì Hồng sẽ tính lãi, vốn cần trả và báo số tiền cho khách hàng biết. Sau đó, khách hàng đưa tiền kèm theo bảng kê cho Hồng, Hồng lập phiếu thu gồm hai liên kèm giấy nộp tiền trình kiểm soát viên, phó phòng kế toán và trưởng phòng kế toán phê duyệt rồi chuyển đến cho thủ quỹ kiểm tra rồi giao liên 2 cho khách hàng. Nhưng trong thực tế, Hồng không thực hiện đúng qui trình trên mà khi khách hàng đến trả nợ ngân hàng, Hồng trực tiếp nhận tiền, lập phiếu thu trên chương trình ISSAP. Sau đó, in ra giao cho khách hàng nộp tiền 1 liên; khi khách hàng nhận phiếu thu tiền, họ đinh ninh rằng số tiền họ nộp đã được hạch toán trừ nợ trong hồ sơ vay tiền của họ. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền, Hồng lại không hạch toán giảm nợ cho khách hàng mà lại hạch toán vào tài khoản của những người mà Hồng đã vay tiền nhằm mục đích trả nợ cho cá nhân Hồng hoặc hạch toán giảm nợ vào các hồ sơ vay mà trước đó Hồng đã chiếm đoạt tiền trả nợ cá nhân. Sau khi thao tác trên máy tính xong, Hồng giao số tiền thu được cho thủ quỹ và phiếu nhận tiền đã được Hồng ghi lại đúng với số tiền và tên những người Hồng trả nợ.

Một số trường hợp cụ thể như: Hồng “chị ba” mượn 400 triệu đồng tiền mặt của ông Nguyễn Văn Trường (ngụ xã Mỹ Phong, TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang) để cho vay đáo nợ ngân hàng; đến kỳ hạn trả nợ nhưng Hồng không có tiền trả cho ông Trường, trong lúc đó ông Nguyễn Văn Năm (ngụ huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang) đem 400 triệu đồng đến trả nợ vay, Hồng liền nhận tiền, lập phiếu thu và ký nhận với khách hàng. Sau khi nhận tiền, Hồng tự ý lấy số tiền trên để hạch toán ghi thu nợ 400 triệu đồng cho ông Nguyễn Văn Trường mà không ghi thu nợ cho ông Nguyễn Văn Năm. Tương tự, Hồng “chị ba” có mượn của DNTN Hoàng Dung II 700 triệu đồng, đến kỳ hạn trả nợ nhưng Hồng không có tiền trả. Ngày 22-4-2009, DNTN Hiệp Lợi II đem 700 triệu đồng đến ngân hàng trả nợ vay, được Hồng nhận tiền, lập phiếu thu và ký nhận với khách hàng. Sau đó, Hồng đã tự ý lấy số tiền trên hạch toán ghi thu giảm nợ cho DNTN Hoàng Dung II và treo nợ cho DNTN Hiệp Lợi II. Ngày 23-4-2009, bà Lương Ngọc Tạo (ngụ huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang) đem 700 triệu đồng trả cho ngân hàng, Hồng lại tự ý lấy số tiền trên ghi thu giảm nợ cho DNTN Hiệp Lợi II mà không ghi thu giảm nợ cho bà Lương Ngọc Tạo...

Bằng thủ đoạn nêu trên, trong một thời gian dài Hồng “chị ba” đã thực hiện việc lấy tiền của 13 khách hàng đến trả nợ ngân hàng với 17 món nợ. Trong đó, đã hoàn trả cho bảy khách hàng, hạch toán trả nợ cho cá nhân 28 trường hợp. Tính đến tháng 9-2009, Hồng “chị ba” còn nợ của sáu khách hàng với số tiền 2,9 tỷ đồng; tháng 10-2009 Hồng thu nợ của Đỗ Văn Hợp đã trả cho ba khách hàng 998 triệu đồng với bốn món nợ; hiện còn chiếm đoạt của ba khách hàng: Nguyễn Văn Năm, Lương Ngọc Tạo và Nguyễn Thị Hằng 1,9 tỷ đồng. Ngoài ra, trong quá trình vay, mượn và cho vay đáo nợ ngân hàng còn nợ qua lại như sau: Hồng “chị ba” vay tiền và còn nợ vốn vay của bảy người với số tiền 8,8 tỷ đồng; Hồng “chị ba” cho vay tiền và có bốn người nợ tiền vay của Hồng “chị ba” 14,1 tỷ đồng; trong đó Đỗ Võ Ngọc Hợp vay của Hồng “chị ba” 6,4 tỷ đồng nhưng không có biên nhận.

(còn tiếp)

Tin mới