Những tấm gương điển hình trong các phong trào thi đua yêu nước

Nhân dân - 29/12/2010 02:49

Nhung tam guong dien hinh trong cac phong trao thi dua yeu nuoc

LTS - Tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII diễn ra tại Thủ đô Hà Nội trong các ngày 27 và 28-12-2010, các đại biểu dự Đại hội đã nghe nhiều báo cáo điển hình của những tấm gương tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước của các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở T.Ư và địa phương trong cả nước. Nội dung báo cáo đã nêu bật thành tích của tập thể, cá nhân đã đạt được trong năm năm qua và nêu ra những bài học kinh nghiệm quý giá trong việc tổ chức, phát động các phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng trong giai đoạn tới. Chúng tôi trân trọng trích, giới thiệu cùng bạn đọc một số báo cáo nói trên.

Gương mẫu 'Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh'

Nhận thức được vai trò quan trọng của cơ quan tham mưu thực hiện Cuộc vận động 'Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh' của tỉnh, và vai trò cá nhân là ủy viên Thường trực Ban chỉ đạo, ngay từ khi phát động, tôi chủ động nghiên cứu, thấm nhuần sâu sắc mục đích, ý nghĩa Cuộc vận động, những đặc điểm của địa phương, từ đó đề xuất với lãnh đạo Ban và trực tiếp soạn thảo hầu hết các văn bản tham mưu cho Ban chỉ đạo triển khai thực hiện Cuộc vận động trong toàn Đảng bộ.

Ban đã tham mưu cho Ban chỉ đạo tỉnh ban hành ba Thông báo điều chỉnh kế hoạch thực hiện; củng cố thành phần Ban chỉ đạo các cấp, hướng dẫn xây dựng quy chế làm việc của Ban chỉ đạo; chấn chỉnh những biểu hiện chưa nghiêm túc trong tổ chức nghiên cứu, học tập chuyên đề; tháo gỡ vướng mắc, bất cập giữa hướng dẫn của Ban chỉ đạo Cuộc vận động địa phương, với chỉ đạo của ngành dọc, nhất là đối với lực lượng vũ trang; chỉ đạo bổ sung về Hội thi 'Kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh'; khắc phục những lúng túng ban đầu, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng bộ trong triển khai và tổ chức thực hiện Cuộc vận động. Ban đã tham mưu cho Ban chỉ đạo tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện từng năm, có lộ trình, nội dung cụ thể, giúp cho cơ sở chủ động về thời gian, tránh bỏ sót nội dung triển khai, và tổ chức thực hiện đạt hiệu quả. Sau khi có Kế hoạch 03, ngày 14-5-2007 của Ban Tuyên giáo T.Ư, Ban tiếp tục hướng dẫn bổ sung chủ đề cho từng năm, liên hệ thực tiễn, đưa vào kế hoạch những nội dung cụ thể, thiết thực, thống nhất thực hiện trong toàn Đảng bộ. Vì vậy, ngay khi bắt đầu triển khai Cuộc vận động, về tổ chức bộ máy chỉ đạo, hệ thống các văn bản hướng dẫn, triển khai thực hiện đã rất cụ thể, thống nhất từ tỉnh, đến cơ sở, tạo thuận lợi căn bản trong suốt quá trình tổ chức thực hiện. Mở rộng phạm vi tổ chức Hội thi 'Kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh', từ cơ sở, nhằm chuyển tải được nhiều mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Bác Hồ sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, không chỉ để học và làm theo Bác, mà góp phần tuyên truyền rộng rãi Cuộc vận động trong Đảng, trong xã hội. Hội thi đã thu hút 2.000 thí sinh, thuộc nhiều đối tượng, nhiều giới, lan tỏa trong nhiều tổ chức xã hội, nhà trường, cơ quan, đơn vị... hưởng ứng tham gia, tạo được sự quan tâm, và đánh giá cao của dư luận, nhất là cán bộ, đảng viên. Không chỉ dừng lại ở hội thi cấp tỉnh và cấp khu vực tổ chức tại TP Vũng Tàu, phong trào thi 'Kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh' được tiếp tục tổ chức dưới rất nhiều hình thức phong phú: Thi kể chuyện qua mạng; thi viết về cảm tưởng, về ý nghĩa giáo dục trong các mẩu chuyện về Bác Hồ, có sự liên hệ với nhiệm vụ của ngành, cơ quan, đơn vị; các cuộc thi của các tổ chức chính trị - xã hội, trong nhà trường, trong thanh niên... vô cùng phong phú và giàu ý nghĩa giáo dục...

Học tập, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, bản thân tôi thấm thía sâu sắc tư tưởng của Người về vai trò nêu gương của người đảng viên, người cán bộ lãnh đạo. Khi viết đơn xin đứng vào hàng ngũ của Đảng là tự nguyện gánh lên vai trách nhiệm bảo vệ và làm giàu thêm uy tín của Đảng, bởi mỗi đảng viên chính là hiện thân của Đảng. Nhân dân, mà gần hơn là quần chúng chung quanh sẽ nhìn vào mình để đánh giá, nhận thức về Đảng. Vì vậy, bản thân thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, triệt để thực hiện nói đi đôi với làm, bắt đầu từ những việc nhỏ nhất là chấp hành nội quy, quy chế cơ quan, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài sản chung; sống giản dị, khiêm tốn, trung thực, hòa đồng với đồng chí, đồng nghiệp. Tôi luôn tạo cho mình tác phong làm việc chủ động, sắp xếp khoa học, có kế hoạch, hài hòa giữa các nhiệm vụ được phân công và luôn tận tụy, trách nhiệm với mọi nhiệm vụ được giao. Dù nội dung tham mưu lớn hay nhỏ, tầm quan trọng khác nhau, nhưng tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu, vận dụng linh hoạt để thực hiện đạt chất lượng cao nhất; nội dung sau phấn đấu tốt hơn nội dung trước, bám sát vấn đề tham mưu cho đến khi hoàn tất. Trong quan hệ với đồng chí, đồng nghiệp, luôn chân thành, cởi mở, tạo niềm tin để có thể thấu hiểu tâm tư, hoàn cảnh từng người và tìm được cho mình phương pháp lãnh đạo thuyết phục nhất. Tôi suy nghĩ, là người lãnh đạo, phải làm sao để cán bộ dưới quyền không ngại tiếp xúc; không ngại bày tỏ suy nghĩ, tâm tư, mong đợi của họ; không ngại đưa ra ý kiến cá nhân, kể cả những ý kiến trái ngược với mình mới là người lãnh đạo tốt. Học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là việc mỗi chúng ta phấn đấu suốt cuộc đời. Bản thân tôi sẽ tiếp tục đem hết khả năng của mình, nỗ lực nhiều hơn nữa để góp phần nhỏ bé đưa Cuộc vận động lớn của Đảng trở thành một phần của đời sống xã hội, thật sự sống trong đời sống xã hội...

Đỗ Thị Kim Thanh: Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

Có yêu nghề thì sẽ có thành công

Tôi sinh năm 1944 tại Thái Nguyên, quê cha mẹ ở Hà Nam, chạy giặc vào vùng núi Võ Nhai từ 3 tuổi. Hòa bình lập lại mới được đến trường, vào đại học ở tuổi 20, được xếp học ngành Cây lương thực. Ra trường, làm việc tại Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, cho nên tôi có cơ hội thực hiện khát vọng của mình. Tập sự xong, làm nghiên cứu tại bộ môn 'Chọn tạo giống lúa' dưới sự hướng dẫn của thầy Lương Định Của. Tấm gương nghiên cứu khoa học mẫu mực miệt mài đầy sáng tạo của thầy và các nhà khoa học nông nghiệp thế hệ trước luôn thôi thúc tôi làm việc tận tụy vì nông dân.

Năm 1980, đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô, tôi chọn đề tài nghiên cứu giống lúa để có cơ hội học lý thuyết sâu sắc cơ bản hơn làm cơ sở cho chuyên môn sau này. Cần cù, ham học, luôn suy nghĩ tìm tòi sáng tạo là sở thích của tôi. Ngoài giờ giảng trên lớp, tôi dành nhiều thời gian đi xe đạp xuống nông thôn, tìm hiểu hoạt động của đội giống ở các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, giúp họ chọn lọc trên các ruộng lúa giống, hướng dẫn rút dòng thuần vận động cấp 1 hóa giống lúa, đưa hạt giống siêu nguyên chủng cho họ nhân và cung cấp cho nông dân tại địa phương. Những việc làm ấy tuy vất vả nhưng giúp tôi yêu nghề hơn. Tôi thường dẫn sinh viên xuống nông thôn làm đề tài nghiên cứu, nêu câu hỏi, yêu cầu các em phân tích, đánh giá. Mỗi khi thấy ruộng lúa của HTX đồng đều cho năng suất cao, lòng tôi nhẹ nhàng, khi gặp thiên tai, dịch bệnh, tôi lo đến mất ngủ và những suy nghĩ, tình cảm của tôi được nhiều sinh viên đồng cảm.

Những năm 90 của thế kỷ 20, nhu cầu về hạt giống lúa lai có năng suất cao gia tăng ở mọi miền đất nước, hạt giống lai từ nước ngoài tràn vào thị trường ồ ạt tạo sức ép cho ngành giống Việt Nam. Tôi thu thập nhiều kiến thức, tài liệu, phương pháp để bước vào một hướng nghiên cứu mới: Tìm kiếm, xác định, chọn tạo cải tiến các vật liệu di truyền để tạo dòng bố mẹ và tạo giống lúa lai cho đất nước. Lúc này niềm đam mê chọn tạo giống cuốn hút mọi thời gian và suy nghĩ của tôi. Năm 1996, tôi chọn ra hai dòng bố, mẹ trong vườn vật liệu và sản xuất được 12 kg hạt lai F1 đưa lên bộ để Cục Khuyến nông trình diễn tại Hà Tây cùng với giống của các tác giả khác trong bộ. Lúa trình diễn sinh trưởng phát triển rất nhanh, cây khỏe, bông to, trỗ đều. Cục Khuyến nông tổ chức Hội nghị đầu bờ mời nhiều tỉnh đến thăm và đánh giá cao.

Tôi dành nhiều thời gian, công sức, trí tuệ để cải tiến những nhược điểm của từng vật liệu, chọn lọc, đánh giá lặp lại nhiều lần và cuối cùng, sự cố gắng không mệt mỏi đã đem lại thành công là tạo ra các dòng bất dục đực, các dòng cho phấn mới, các giống lúa lai, lúa thuần có giá trị sử dụng cao. Giống lúa lai hai dòng TH3-3 cùng với quy trình nhân hạt giống bố mẹ và quy trình sản xuất hạt lai F1 được công nhận năm 2005, được trình diễn tại 26 tỉnh, thành phố và được nông dân chấp nhận. Sau giống lúa lai TH3-3 là TH3-4, TH3-5, TH5-1, TH7-2 và lúa thuần thơm Hương cốm. Các giống này đều có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng rộng, cho nên nhu cầu về hạt giống lai tăng lên hằng năm, chúng tôi không thể sản xuất và cung ứng kịp, cho nên đã quyết định chuyển nhượng bản quyền cho các công ty vì họ có điều kiện tốt về tài chính, có kinh nghiệm kinh doanh, có thể mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của nông dân. Việc chuyển nhượng bản quyền đã tạo ra bước đột phá mới trong nghiên cứu khoa học. Chuyển nhượng xong, diện tích sử dụng giống mở rộng nhanh rõ rệt. Năm 2009, diện tích sản xuất hạt lai F1 của hai giống này chiếm hơn 60% tổng diện tích sản xuất hạt lai trong nước, cung cấp hơn 1.000 tấn hạt lai/năm cho nông dân các tỉnh phía bắc, tạo lợi thế cạnh tranh cho lúa lai trong nước. Các công ty đã mở ra những vùng sản xuất hạt giống lai rộng lớn, tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động nông nghiệp có tay nghề cao, thu nhập cao hơn trồng lúa thường. Nhờ chuyển nhượng bản quyền mà nhà trường thu hồi được kinh phí sự nghiệp khoa học, Nhà nước thu được thuế bản quyền, Viện chúng tôi có tiền mua ô-tô, xây thêm phòng làm việc, kho tàng và mở rộng nghiên cứu theo nhiều hướng mới. Các cán bộ nghiên cứu trong nhóm có lương, thưởng, công tác phí, được cấp thêm kinh phí cho việc học hành nâng cao trình độ chuyên môn ở trong nước và cả nước ngoài.

Sau mười năm làm việc ở tuổi nghỉ hưu, một nhóm nghiên cứu trẻ từ chỗ có ba người, đã lớn mạnh thành một Phòng nghiên cứu vững vàng về lý luận, có tay nghề thực hành chọn tạo giống lúa giỏi với hai tiến sĩ; sáu thạc sĩ; bốn kỹ sư; một kỹ thuật viên. Trong thời gian đó, nhóm chúng tôi vừa nghiên cứu, vừa học tập nâng cao trình độ, vừa lai tạo, chọn lọc, mở rộng sản xuất các giống lúa mới, vừa phổ biến kiến thức trồng lúa, sản xuất hạt giống cho nông dân; đồng thời đã tham gia viết sách, viết bài giảng, công bố các công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo tốt cho ngành chọn giống và sản xuất giống nước nhà.

Nghề nông ở nước ta vẫn đang chiếm tỷ lệ lớn và luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, rủi ro vì biến đổi khí hậu diễn ra nhanh và vô cùng khốc liệt... Để xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp bền vững, ổn định cần có đội ngũ các nhà khoa học nông nghiệp yêu nghề, dám hy sinh suốt đời cho nghiên cứu khoa học.

PGS, TS Nguyễn Thị Trâm (Đại học Nông nghiệp Hà Nội)

Vì cuộc sống bình yên của nhân dân

Mặc dù chiến tranh đã kết thúc hơn 35 năm, nhưng từ đó đến nay đã có hơn 100 nghìn người chết và bị thương do tai nạn bom mìn, gây ra những nỗi đau đớn cho gia đình của họ. Theo số liệu tổng kết chiến tranh, riêng số lượng đạn dược quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam là 15,35 triệu tấn, nhiều gấp gần bốn lần so với chiến tranh thế giới thứ 2. Theo kết quả điều tra năm 2002, số bom mìn, vật nổ còn sót lại khoảng 800 nghìn tấn, làm ô nhiễm hơn 6,6 triệu ha. Hằng năm Nhà nước phải chi hàng nghìn tỷ đồng cho việc rà phá bom mìn phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, hỗ trợ nạn nhân bom mìn và tái định cư ở vùng ô nhiễm bom mìn.

Ngay sau chiến tranh, Nhà nước và Quân đội ta đã tổ chức các chiến dịch lớn để thu gom, rà phá, tháo gỡ bom đạn vật nổ còn sót lại, đã xử lý hàng chục triệu quả mìn, hàng vạn tấn bom đạn và hàng trăm triệu vật nổ khác.

Đề tài khoa học 'Nghiên cứu xác định công nghệ và mô hình tổ chức trạm xử lý bom mìn, đạn dược, vật nổ ở Việt Nam' của chúng tôi đã được nghiệm thu, đưa vào ứng dụng. Qua thực tiễn vận hành đã đạt hiệu quả cao, bảo đảm an toàn cho bộ đội, hạ giá thành chi phí nhiều lần so với trang thiết bị nhập ngoại, phù hợp khả năng đầu tư và có thể sản xuất hoàn toàn ở trong nước.

Từ sau năm 1975 đến nay, bằng công sức và trí tuệ, Binh chủng Công binh và lực lượng công binh toàn quân đã đạt được kết quả rất lớn, tích cực rà phá bom mìn, giải phóng hàng trăm nghìn ha đất đai. Tôi và các cán bộ của Trung tâm triển khai viết hoàn chỉnh dự thảo: 'Chương trình quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh ở Việt Nam giai đoạn 2010-2025'. Đó là những ngày làm việc miệt mài, càng làm càng sáng tỏ nhiều vấn đề, càng thôi thúc chúng tôi làm việc ngày đêm không nghỉ. Tháng 4-2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt chương trình. Chương trình xác định rõ mục tiêu là Việt Nam cần phải trở thành quốc gia không còn tác động của bom mìn, vật nổ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, tạo lập môi trường bảo đảm an toàn cho nhân dân sống tại các khu vực ô nhiễm bom mìn và hòa nhập hoàn toàn nạn nhân bom mìn vào đời sống xã hội. Nếu bảo đảm được tiến độ, thời gian khắc phục cơ bản hậu quả bom mìn trên đất nước ta sẽ được rút ngắn từ hơn 300 năm xuống còn 50 năm. Hoàn thành tốt nhiệm vụ nên đơn vị đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới và cá nhân tôi cũng được khen thưởng, nhiều năm liên tục được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, Bằng khen của Chính phủ và Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng ba.

Đại tá Nguyễn Trọng Cảnh Giám đốc Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn - Binh chủng Công binh

Không nản lòng sau thất bại

Tôi sinh ra ở vùng quê ven biển, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Cũng như bao thanh niên nông thôn khác, tôi luôn cần cù, chịu khó, chăm chỉ lao động và luôn khát khao được học tập, vươn lên trong cuộc sống. Tuy nhiên, do điều kiện gia đình khó khăn, tôi chỉ thi và đỗ vào Trường trung cấp Nuôi trồng thủy sản Từ Sơn (Bắc Ninh), song vẫn ước ao ngày nào đó được bước chân vào giảng đường đại học.

Tốt nghiệp, với tấm bằng loại giỏi, năm 2003 tôi làm cho một công ty nuôi tôm, sau đó về làm việc tại Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I Hải Phòng. Đây là một môi trường học tập tốt, với các kỹ sư có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Qua quá trình nghiên cứu và học tập, với những kiến thức, kinh nghiệm thu được, tôi đã quyết định trở về quê hương lập nghiệp. Được sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong tỉnh, nhất là tổ chức Đoàn đã thôi thúc, tạo thêm động lực cho tôi quyết tâm tham gia phát triển kinh tế. Với số vốn bốn triệu đồng ban đầu vay được từ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Tiền Hải, do tổ chức Đoàn đứng ra tín chấp, tôi đã mạnh dạn đấu thầu gần một ha đất bãi bồi ven sông Kiến Giang, thuộc xã Nam Cường, Tiền Hải (Thái Bình) chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản. Ngoài bốn triệu đồng đã dùng để thuê đất ra, tôi không còn đồng nào để thuê nhân công đào ao nuôi tôm, lắp đặt thiết bị hỗ trợ tôm giống. Đến năm 2006, tôi huy động vốn từ gia đình và bạn bè, mạnh dạn nhập một vạn con giống hết 20 triệu đồng. Cá nhập về là giống cá vược nước mặn tôi thuần hóa và chuyển về nước ngọt hoàn toàn. Sau một tháng ươm nuôi tôi tiến hành bắt cá bán, được ba triệu đồng, lỗ 17 triệu đồng. Tôi đã thất bại. Choáng váng, mất một thời gian tôi mới lấy lại tinh thần, rồi tiếp tục huy động vốn ở nơi nào có thể, tổng cộng được mười triệu đồng. Tôi lại nhập 5.000 con giống cá vược nước mặn về để thuần hóa nuôi trong nước ngọt. Sau 25 ngày, tôi vớt bán, chuyến này không có lãi nhưng cũng không lỗ. Tôi tiếp tục nhập về một vài chuyến nữa để thuần hóa. Những chuyến tiếp theo ươm không có lãi nhưng cũng không lỗ và tôi kiên trì tìm tòi. Sự mong mỏi bấy lâu của tôi rồi cũng được đền đáp. Tôi đã tìm ra quy trình thuần hóa và nuôi thương phẩm thành công loài cá này trong nước ngọt và đưa vào nuôi thương phẩm đạt hiệu quả kinh tế rất cao.

Đến nay, loài cá vược tôi thuần hóa đã có mặt trên 20 tỉnh, thành phố. Tôi tư vấn kỹ thuật và cung ứng cá giống cho người chăn nuôi hiểu và nuôi được loài cá này. Không chỉ ở các tỉnh đồng bằng mà ngay cả một số tỉnh miền núi phía bắc cũng đang nuôi cá vược của tôi và cũng đưa lại hiệu quả kinh tế cao. Đến nay, tôi đã đưa thêm được hai loài cá biển khác có giá trị kinh tế cao thuần hóa về nuôi trong nước ngọt và tiếp tục nghiên cứu thuần hóa loài cá thứ tư. Thông qua các hoạt động nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đã đem lại lợi nhuận hằng năm đạt 500 triệu đồng. Giải quyết việc làm cho bảy lao động là thanh niên có thu nhập ổn định từ 1,7 đến 2 triệu đồng/tháng.

Tôi đã mạnh dạn thành lập Công ty TNHH giống thủy sản Hải Long. Năm 2009, mở rộng thêm 4,3 ha để xây dựng trại nghiên cứu và sản xuất giống cá biển và ngao giống. Thu hút thêm 30 lao động là thanh niên ở địa phương, đáp ứng nguồn giống tốt cho người chăn nuôi trong và ngoài tỉnh Thái Bình.

Với những kết quả đạt được, tôi đã được T.Ư Đoàn trao tặng Bằng khen và Cúp Giải thưởng Lương Định Của năm 2008, một trong 15 thanh niên tiêu biểu toàn quốc năm 2009 và là đại biểu tham dự Đại hội tài năng trẻ, thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng sáng tạo; năm lần nhận Bằng khen và Giấy khen của UBND tỉnh Thái Bình và UBND huyện Tiền Hải.

Trương Văn Trị: Giám đốc Công ty TNHH Giống thủy sản Hải Long tỉnh Thái Bình

Phong trào thi đua ở Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro

Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro được thành lập năm 1981 trên cơ sở Hiệp định Liên chính phủ giữa Việt Nam và Liên Xô với nhiệm vụ chính là tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam. Chỉ sau năm năm kể từ ngày thành lập, Vietsovpetro đã khai thác được tấn dầu thô đầu tiên tại mỏ Bạch Hổ trên thềm lục địa Việt Nam, đồng thời xây dựng được một cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, bao gồm cụm cảng dầu khí chuyên dụng, một tổ hợp các công trình sản xuất cả trên bờ và trên biển, cho phép Vietsovpetro tự thực hiện đồng bộ tất cả các công đoạn phục vụ cho quá trình tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí. Với việc khai thác được tấn dầu thô đầu tiên vào năm 1986, Vietsovpetro đã ghi tên Việt Nam trên bản đồ các nước sản xuất và xuất khẩu dầu thô trên thế giới. Chính sự trưởng thành và vươn lên mạnh mẽ của Vietsovpetro đã tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.

Trong suốt quá trình gần 30 năm xây dựng và phát triển, Vietsovpetro đã liên tục có những đóng góp quan trọng vào việc ổn định và phát triển kinh tế của Việt Nam. Những tấn dầu thô đầu tiên mà Vietsovpetro khai thác được vào những năm cuối của thập niên 80 thế kỷ 20, khi đất nước ta còn đang trong giai đoạn khó khăn, đã góp phần tạo nên thành công của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đưa đất nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài. Và tính đến nay, Vietsovpetro đã khai thác được gần 190 triệu tấn dầu với doanh thu bán dầu hơn 50 tỷ USD, nộp ngân sách Nhà nước Việt Nam hơn 32 tỷ USD, tạo được việc làm cho hàng chục nghìn lao động từ Trung ương đến địa phương, đào tạo được hàng nghìn cán bộ quản lý, kỹ thuật cho ngành dầu khí Việt Nam và là động lực phát triển cho nhiều ngành kinh tế quan trọng trong cả nước.

Có được những thành tựu to lớn trên đây là nhờ có sự lãnh đạo sâu sát của Đảng và Nhà nước cùng với sự nỗ lực thi đua phấn đấu vượt bậc của tập thể lao động quốc tế Vietsovpetro mà nòng cốt chính là các phong trào thi đua yêu nước. Trong suốt quá trình gần 30 năm xây dựng và phát triển, các phong trào thi đua ở Vietsovpetro đã được tổ chức thực hiện thường xuyên, liên tục và có hiệu quả, mang đậm nét phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa và thi đua quốc tế. Phong trào thi đua được tổ chức trong mọi lĩnh vực, với sự tham gia của mọi thành viên và tập thể lao động, không phân biệt người Việt Nam hay người nước ngoài. Có lẽ không ở một doanh nghiệp nào mà người nước ngoài lại nhiệt tình tham gia các phong trào thi đua yêu nước như người Nga ở Vietsovpetro. Phong trào thi đua yêu nước ở Vietsovpetro đã tạo nên sự gần gũi và hòa đồng hai nền văn hóa Việt - Nga. Qua các phong trào thi đua yêu nước đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều các gương người tốt, việc tốt, nhiều tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến. Trong đó có rất nhiều người sau này đã trở thành những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của ngành dầu khí Việt Nam và LB Nga.

Chính phong trào thi đua yêu nước, được kế thừa và phát triển từ phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa, đã tiếp thêm nhiệt huyết, sức mạnh và niềm tin giúp cho tập thể lao động quốc tế Vietsovpetro vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để đạt được những thành tựu to lớn. Thi đua đã thiết thực góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ sản xuất. Qua phong trào thi đua yêu nước, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam trong Vietsovpetro đã phát hiện ra thân dầu trong đá móng nứt nẻ của mỏ Bạch Hổ với trữ lượng hàng trăm triệu tấn. Việc tìm ra dầu trong tầng móng, tổ chức khai thác thân dầu trong đá móng an toàn và ổn định nhiều chục năm qua ở Vietsovpetro đã mở ra một tầm nhìn hoàn toàn mới cả về khoa học lẫn thực tiễn về tiềm năng dầu khí không chỉ ở thềm lục địa Việt Nam mà cả trong khu vực và thế giới, đồng thời tạo tiền đề cho việc phát triển vững chắc ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam. Thành công đó được coi là một kỳ tích mà trên thế giới chưa có tiền lệ. Sự kiện này không chỉ thu hút các nhà khoa học hàng đầu thế giới về dầu khí, mà còn lập tức thu hút hàng loạt công ty dầu khí nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Đây còn là đề tài nghiên cứu thành công của nhiều luận án Tiến sĩ Khoa học trong và ngoài nước, góp phần vào việc thúc đẩy ngành nghiên cứu khoa học dầu khí ở Việt Nam và trên thế giới.

Sau bốn năm kề vai sát cánh cùng các chuyên gia Nga, lần đầu tiên, một người Việt Nam đã được bổ nhiệm làm giàn trưởng giàn khoan số 7 vào cuối năm 1989. Để kiểm nghiệm mức độ trưởng thành của cán bộ Việt Nam, Vietsovpetro đã xây dựng thí điểm mô hình giàn khoan tự lực với lực lượng lao động chính, chủ yếu là người Việt Nam, dưới sự chỉ huy của đồng chí Hà Ngọc Khuê, giàn trưởng đầu tiên của Việt Nam. Đây là một thử nghiệm rất thành công bởi với tính ham học hỏi, cần cù, sáng tạo của người Việt Nam, giàn khoan tự lực đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, không kém các giàn do các chuyên gia Nga giàu kinh nghiệm lãnh đạo. Đây là tín hiệu cho thấy một lớp cán bộ quản lý, cán bộ khoa học - kỹ thuật người Việt Nam đã bắt đầu trưởng thành. Mô hình giàn khoan tự lực thành công này đã nhanh chóng được nhân rộng ra nhiều lĩnh vực hoạt động khác của Vietsovpetro làm xuất hiện thêm phong trào thi đua mới, đó là phong trào 'Thi đua giữa người Việt và người Nga'. Các đơn vị, giàn, xưởng, đội tự lực được nhân rộng từ mô hình giàn khoan tự lực, với lực lượng chủ yếu là người Việt, do người Việt Nam làm lãnh đạo ra sức thi đua với các đơn vị do cán bộ người Nga lãnh đạo. Phong trào 'Thi đua giữa người Việt và người Nga' càng làm cho phong trào 'Thi đua đào tạo và chuyển giao tay nghề cho người Việt' trở lên sôi động hơn và hiệu quả hơn...

Ghi nhận những thành tựu to lớn mà Vietsovpetro đã đạt được, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam trao tặng cho tập thể lao động quốc tế Vietsovpetro: Hai lần Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Huân chương Chiến công, Huân chương Lao động và nhiều danh hiệu cao quý khác. Có 189 tập thể và 7.600 cá nhân, trong đó có 596 người Nga, của Vietsovpetro đã vinh dự được Nhà nước và Chính phủ Việt Nam trao tặng các danh hiệu cao quý. Đặc biệt trong số các cá nhân Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới của Vietsovpetro có một chuyên gia Nga.

Nguyễn Hữu Tuyến: Tổng Giám đốc XNLD Vietsovpetro