“Mắt thần” đảo Phú Quý
Những ngày cận kề Tết Nguyên đán Canh Dần 2010, cánh phóng viên chúng tôi cùng đoàn công tác của Vùng D Hải quân đồng hành trên chuyến tàu VH 785 đi thăm và chúc tết cán bộ chiến sĩ ở các đảo ven bờ từ Khánh Hòa đến Bình Thuận.
Sau hơn 30 giờ bị sóng đánh nôn nao hết cả ruột gan, tàu chúng tôi cập cảng Phú Quý, một huyện đảo cách thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận gần 60 hải lý. Khác với nhãn quan đã cảm nhận ở các đảo tôi từng đặt chân, Phú Quý hiện ra lạ mà quen, vì vừa mang nét phố, vừa đậm nét quê. Cuộc sống cư dân trên đảo sung túc, đoàn kết.
Theo chân các cán bộ “thổ địa”, lên xe ô tô tải - loại phương tiện chủ yếu đưa chúng tôi lên các cao điểm được gọi vui là “taxi bò”. Bò qua những con đường dốc và leo bộ, chúng tôi đến điểm cao nhất trên đảo Phú Quý: Trạm ra đa 575 (R75) thuộc Tiểu đoàn 451, Vùng D Hải quân, đóng chân trên Núi Cấm. Ở độ cao 108 m so với mực nước biển, “mắt thần” Núi Cấm có nhiệm vụ quan sát mục tiêu trên biển và trên không (tầm thấp), đây là trạm tiền tiêu vô cùng quan trọng. Năm 2009, trạm đã phát hiện và thông báo kịp thời hàng chục lượt máy bay trên không, hàng nghìn tàu thuyền trên biển trong khu vực quản lý, đảm bảo an ninh vùng trời, vùng biển. Tại phòng trực của trạm, dưới cái nắng, gió gay gắt, 2 chiến sĩ 1 già, 1 trẻ vẫn tập trung cao độ vào từng thao tác, thành thục, chính xác từng công đoạn trên những chiếc máy. Sau khi hết ca, thiếu úy Nguyễn Văn Tùng, Trạm phó R75, hướng dẫn chúng tôi những thiết bị được sử dụng như thế nào, hiệu quả và mục đích của từng loại máy. Anh kể: Tốt nghiệp Học viện Hải Quân (Nha Trang), anh nhận nhiệm vụ ra đảo và gắn liền với R75 đã hơn 2 năm. Kỷ niệm đáng nhớ nhất chính là lần đầu tiên anh đặt chân đến đây, giữa lồng lộng bao quanh là biển, ngôi nhà của đơn vị như 1 chấm nhỏ bao quanh rừng núi, chỉ nghe tiếng gió, tiếng chim.
Từ vị trí “mắt thần”, chúng tôi có dịp mục sở thị những gì anh Tùng kể, quả là phóng ống kính đến tầm nào cũng chỉ thấy màu xanh của cây và nước biển. Điều lạ là bao quanh cây cối nhưng điểm đơn vị đóng thì chẳng cây nào sống nổi. Binh nhất Hàng Hồng Thành nói: “Em đưa bao nhiêu cây lên đây trồng, che chắn thế nào cùng không qua được 2 tháng”. Biết “nỗi khổ” này, khi chúng tôi lên đây, ngoài hàng tết như bánh, kẹo, thực phẩm… vùng tặng, bà con trên Đảo còn gửi thêm 1 cành mai vàng lấm tấm nụ để các chiến sĩ trên Trạm đón xuân.
“Sa pa” xứ Trầm
Lính ra đa Tiểu đoàn 451 trực sẵn sàng chiến đấu, đảm bảo không để “lọt” mục tiêu Tạm biệt cán bộ, chiến sĩ R75, đoàn quay về đảo Hòn Tre (phường Vĩnh Nguyên, TP. Nha Trang). Tàu thả neo ở Vịnh Nha Trang, chúng tôi di chuyển lên bờ bằng ca nô, 20 phút cả đoàn đặt chân lên Bãi Suốt, lại “taxi bò” 5 km, xe luôn phải “gài” số 1 để “bò” từng mét, đường dốc và dựng đứng với những khúc cua tử thần, chúng tôi lên đến Trạm R65. Đóng chân ở độ cao 500m so với mực nước biển, Trạm R65 là một “mắt thần” án ngữ phía đông TP. Nha Trang. Đón chúng tôi bằng ấm trà nóng xứ Bắc được nấu bằng nước mưa, Thiếu tá Vũ Đình Ngọc, Trạm trưởng Trạm R65 cho biết: “Đơn vị đóng quân ở vị trí có thời tiết rất khắc nghiệt, luôn phải đối mặt với nguy cơ thiếu nước, nước uống luôn phụ thuộc vào lượng nước mưa hàng năm. Nước sinh hoạt, cán bộ, chiến sĩ phải tiết kiệm như anh em ở Trường Sa. Mùa này ở đây sương muối và nhiệt độ có khi xuống dưới 15 độ C”. Trong số các trạm ra đa của vùng biển Nam Trung Bộ thì Trạm R65 là nơi chiếm nhiều cái nhất: chiến lược nhất, ở cao nhất, lạnh nhất, nhiều khó khăn gian khổ nhất và ít thấy người nhất.
Ở đây trời mù quanh năm, anh em lính tráng gọi vui là “Sa pa” trong sương của xứ Trầm. Với nhiệm vụ quan trọng là chốt gác thường trực trước cửa ngõ của TP. Nha Trang nói riêng và Khánh Hòa nói chung, hàng ngày cán bộ, chiến sĩ phải theo dõi toàn bộ diễn biến trên vùng trời, vùng biển được quản lý qua “mắt thần”. Mỗi giờ lại đổi gác, trực 24/24 giờ và luôn sẵn sàng chiến đấu.
Nằm xa dân, bao quanh là rừng rậm nên cả năm đơn vị mới có khách đến vào dịp lễ, tết. Không xa như các đảo ở Trường Sa nhưng cảm giác “được thấy người” thì chẳng khác. Trung sĩ Đặng Xuân Trường chia sẻ “3 tháng tụi em mới xuống núi được 1 lần, nhiều lúc thèm tiếng người lắm anh ạ”. Điều ấn tượng và làm nên sự khác biệt của lính R65 chính là “sống chung với rắn”! Trường kể: “Tối đến khi đi ngủ tụi em phải mắc mùng (màn) nhưng không phải để tránh muỗi mà là tránh… rắn. Vì quanh đồi núi rậm rạp nên có nhiều rắn, chủ yếu là rắn xanh (rắn lục), chuyện rắn nằm ngủ trên giường, trong chăn, trong gối cán bộ, chiến sĩ ở đây thường gặp như cơm bữa. Nhưng chưa một ai bị rắn cắn, tụi em tự nói với nhau rắn thương mình vất vả chắc không nỡ cắn. Anh em chiến sĩ mới nhận nhiệm vụ trên Trạm ngoài những bài học về quan sát mục tiêu từ xa, còn có những bài học “sẵn sàng chiến đấu” mỗi khi đối mặt với rắn độc.
Chuyện tình của lính Rađa
Câu chuyện tình của chàng lính ra đa Trạm R75 Nguyễn Văn Thông (quê Bắc Giang) và chị Trần Thị Hoa (quê Quảng Ngãi) đã truyền miệng anh em lính tráng đến tai chúng tôi. Trong chuyến xe về quê, anh đã gặp cô sinh viên trường Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, cảm tình anh lính đảo chất phác, vượt qua những cản trở của gia đình, chị Hoa đã quyết định theo chồng ra đảo. Trong căn phòng nhỏ cạnh trạm, vợ chồng anh vừa đón cậu con trai đầu lòng ngay lúc đoàn đặt chân đến. Cả đơn vị như có hội, niềm vui nhân đôi khi xuân đến. Anh Thông tâm sự: “Lính R tụi mình quanh năm trên núi, tình cảm chỉ biết san sẻ qua những cánh thư phải cả tháng mới tới, nhiều người vì điều kiện xa xôi nên bị xem là “ế vợ”, nên có những “nữ anh hùng” dám đi ra đảo cùng chồng như vợ mình thì mừng cho lính R lắm”. Anh còn nói thêm, vợi chồng sẽ gắn bó ở đây, con trai mình lớn lên hi vọng sẽ nối nghiệp “lính hải quân trên bờ” như bố.
Những trạm ra đa nơi chúng tôi đặt chân đều thiếu nước, thiếu rau xanh... chỉ có gió và không gian rộng lớn của biển, đảo và trời quê hương. Họ, những chiến sĩ rất đời thường, những đài quan sát hữu vô hình, song những chiến công thầm lặng ấy của các anh luôn được nhân dân ghi nhớ. Và đến hẹn lại lên, đêm giao thừa anh em lính tráng ở các đơn vị, rồi bà con ngư dân… kéo nhau lên trạm để cùng hướng về đất liền cùng đón thời khắc giao năm cũ, năm mới. Dẫu nhiều khó khăn gian khổ nhưng ai đã ở đây đều khắc trong mình “đảo là nhà, biển cả là quê hương”.
