Như thế là cưỡng đoạt tài sản

Nhà báo & Công luận - 27/11/2011 09:31

(CL)- Trong bài “Nỗi đau hàng Việt”, báo điện tử Công luận đã đề cập đến việc nhân viên của công ty Thái Lân đòi Tập đoàn Tân Hiệp Phát phải “hỗ trợ” hơn 1,15 tỉ đồng với lý do đã mua phải các sản phẩm của Tân Hiệp Phát bị hỏng. Hành vi này đã được các cơ quan bảo vệ pháp luật phân tích và cho rằng, đó là hành vi tống tiền doanh nghiệp.

Hành vi đòi Tập đoàn Tân Hiệp Phát “hỗ trợ” của các ông Lê Văn Viện và Trần Văn Dũng
đã đủ yếu tố cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản.


Để có cái nhìn rõ hơn, báo điện tử Công luận xin trích đăng ý kiến của một số luật sư phân tích về những khía cạnh pháp lý của vụ việc này.

Luật sư Phan Vũ Tuấn, đoàn luật sư TP. HCM đã cho rằng, hành vi đòi Tân Hiệp Phát phải “bồi thường”, “hỗ trợ” của các đối tượng đã đủ yếu tố cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại Điều 135 của Bộ Luật Hình sự.

Theo luật sư Tuấn, các yếu tố cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 135 BLHS gồm có:

*Về Khách thể của tội phạm của tội cưỡng đoạt tài sản là quan hệ sở hữu, bao gồm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chủ tài sản. Bên cạnh đó, hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản còn xâm phạm đến quyền nhân thân của nạn nhân.

Trong vụ việc nêu trên, các ông Lê Văn Viện và Trần Văn Dũng, khách thể đã đạt được mục đích tống tiền đối tượng của vụ việc. Tài sản ở đây là khoản tiền 1.150.000.000 VNĐ mà các ông Viện và Dũng đưa ra thông tin sai lệch nhằm chiếm giữ.

* Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản được thực hiện thông qua các hình thức sau đây:

- Hành vi “đe dọa sẽ dùng vũ lực”;

- “Có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác” là hành vi đe dọa sẽ gây thiệt hại về tài sản, danh dự, uy tín bằng bất cứ thủ đoạn nào nếu người bị uy hiếp không thỏa mãn yêu cầu về tài sản của người phạm tội. Hành vi này có khả năng khống chế ý chí của người bị đe dọa, mà chưa đến mức làm cho người bị đe dọa bị tê liệt ý chí. Hành vi uy hiếp tinh thần này có thể được thực hiện dưới một trong các dạng:

+ Đe họa hủy hoại tài sản của người bị đe dọa;

+ Đe dọa tố giác hành vi phạm pháp hoặc vi phạm đạo đức của người bị đe dọa;

+ Đe dọa công bố những tin tức thuộc đời tư mà người bị đe dọa muốn giữ kín…

Trong trường hợp của các ông Viện và Dũng, mặt khách quan đã đáp ứng khi họ có hành vi đe dọa phát tán thông tin hàng hóa bị hỏng(dù thông tin này chưa hề được kiểm chứng) nhằm làm mất uy tín Công ty Tân Hiệp Phát (người bị uy hiếp). Để rõ thấy hơn, có thể tham khảo từ vụ án Phan Khắc Chung cưỡng đoạt tài sản, do TAND quận Gò Vấp xử ngày 18/8/2011.

Theo luật sư Tuấn, tội cưỡng đạt tài sản có cấu thành tội phạm cắt xén, tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện một trong các dạng hành vi nêu trên. “Chiếm đoạt tài sản” không phải là dấu hiệu hành vi thuộc mặt khách quan cấu thành tội phạm nên nếu người phạm tội thực hiện một trong các hành vi nêu trên mà chưa thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì tội phạm đã hoàn thành.

Về hậu quả là chiếm đoạt thành công số tiền 1.150.000.000 VNĐ thì không phải là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành mặt khách quan của tội phạm.

Đối với các ông Viện và Dũng, cho dù họ chưa chiếm đoạt được số tiền nêu trên (chưa chiếm đoạt được số tiền 1.150.000.000 VNĐ) thì tội phạm vẫn hoàn thành.

* Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội cưỡng đoạt tài sản có lỗi cố ý trực tiếp (Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra). Mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi “đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác” là “nhằm chiếm đoạt tài sản”. Trong mặt khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản nhà làm luật không quy định “cưỡng đoạt tài sản” là hành vi khách quan của tội phạm mà quy định ‘cưỡng đoạt tài sản” là dấu hiệu mục đích phạm tội trong mặt chủ quan của tội phạm. Vì vậy, mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc để định tội.

Mặc dù các ông Viện và Dũng sử dụng thuật ngữ “bồi thường” hay “hỗ trợ”, tất cả đều nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 1.150.000.000 VNĐ (số tiền gấp 35 lần giá trị lô hàng họ đang cất giữ). Đây là lỗi cố ý trực tiếp: các ông Viện và Dũng hoàn toàn có đủ minh mẫn và hiểu biết để có thể lựa chọn phương án yêu cầu đổi hàng (vì phía THP đã nhiều lần đề nghị), đây mới là phương án xử sự phù hợp, nhưng họ đã tự lựa chọn phương án đe dọa nhằm chiếm đoạt tài sản.

* Chủ thể của tội phạm

Trong trường hợp của các ông Viện và Dũng thì 3 yếu tố cấu thành tội phạm: Khách thể, Chủ quan, Chủ thể đã thỏa mãn. Riêng đối với hành vi khách quan: cần phải có căn cứ chứng minh hành vi đe dọa Tân Hiệp Phát phải đưa tiền cho các ông Viện và Dũng nếu không họ sẽ có những hành động tiêu cực đối với Tân Hiệp Phát.

Khi đã có chứng cứ chứng minh rõ ràng là các ông Viện và Dũng có hành vi cưỡng đoạt tài sản của Tân Hiệp phát thì căn cứ vào số tiền hai ông này yêu cầu là 1.150.000.000 VNĐ có thể yêu cầu khởi tố ông Viện, ông Dũng theo Khoản 4 Điều 135 BLHS. Vì cấu thành của tội cưỡng đoạt tài sản là cấu thành cắt xén, do đó không cần phải chiếm đoạt được tài sản 1.150.000.000 đ tội phạm mới hoàn thành, mà chỉ cần hành vi đe dọa và tiến thực hiện hành vi đe dọa hoàn thành thì tội cưỡng đoạt tài sản đã cấu thành.

Ngoài ra, còn có thể áp dụng các tình tiết tăng nặng tại Khoản 1, Điều 48:

+ Điểm a): phạm tội có tổ chức

Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 20 BLHS); Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm (khoản 1 Điều 20 BLHS). Phạm tội có tổ chức, là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện một tội phạm, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu. Phạm tội có tổ chức là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia. Trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu. Theo quy định tại khoản 2 Điều 20 BLHS thì, người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Theo Khoản 2, Điều 48 thì những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng, nhưng vì mức độ và tính chất hành vi của các ông Viện và Dũng thuộc phạm vi của Khoản 4, Điều 135 do đó tình tiết phạm tội có tổ chức và gây hậu quả nghiêm trọng/rất nghiêm trọng/đặc biệt nghiêm trọng không áp dụng là tình tiết định tội hay định khung mà là tình tiết tăng nặng theo như điểm a và điểm k, Khoản 1, Điều 48 BLHS.

Đình Hà

Điều 135. Bộ Luật Hình sự quy định về tội Tội cưỡng đoạt tài sản như sau:

1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.


Tin mới