Với khoản tín dụng tương đương 200 triệu USD, Dự án TCNT II có mục tiêu hỗ trợ phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao điều kiện sống của người dân nông thôn, phù hợp với chính sách ưu tiên của Chính phủ Việt Nam trong công cuộc phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với xóa đói, giảm nghèo và phát triển hệ thống tài chính nông thôn bền vững.
Theo đánh giá của WB, Dự án TCNT II đã hoàn thành tốt các mục tiêu phát triển theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và WB trong Hiệp định Tài trợ.
Mục tiêu cung cấp tín dụng mở rộng đầu tư ở khu vực nông thôn của Dự án đã đạt kết quả cao. Nguồn vốn tín dụng của Dự án đã tạo ra tổng mức đầu tư lên đến 870 triệu USD, cao gấp 3 lần so với dự tính ban đầu, trong đó nguồn vốn WB tài trợ chiếm 55%, các tổ chức tín dụng tài trợ 14% và người vay cuối cùng đóng góp 31%. Như vậy, tính ra, một USD cho vay của WB đã tạo ra khoảng 4 USD giá trị đầu tư ở khu vực nông thôn, cao hơn 3 lần so với mức dự kiến ban đầu của WB.
Dự án TCNT II đã tài trợ cho gần 500.000 dự án khả thi của các hộ gia đình, các doanh nghiệp tư nhân ở nông thôn trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh phục vụ trực tiếp cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, đã có 60 tỉnh, thành phố trong cả nước cũng được hưởng lợi từ nguồn vốn Dự án. Nguồn vốn Dự án đã lan tỏa ở tất cả các lĩnh vực, ngành, nghề kinh tế nông nghiệp, nông thôn và trên khắp các vùng, miền của đất nước. Bên cạnh đó, với tỷ lệ cho vay trung và dài hạn ở mức rất cao là 99% tổng dư nợ, Dự án cũng đã đạt mục tiêu cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn (hiện còn rất thiếu trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam) để đầu tư phát triển khu vực nông thôn.
Cùng với sự gia tăng đầu tư ở khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đã có gần 300.000 việc làm mới được tạo ra ở khu vực nông thôn. Bình quân khoảng 4.000 USD được đầu tư đã tạo ra một việc làm.
Thông qua Quỹ Cho vay tài chính vi mô, đã có gần 300.000 khoản vay nhỏ được cho vay lại tới người nghèo ở khu vực miền núi, đồng bào dân tộc. Nhờ đó, đã góp phần cải thiện đời sống của các hộ gia đình tại các địa bàn kém phát triển và ít có cơ hội tiếp cận các nguồn vốn cho vay chính thức.
Theo báo cáo đánh giá tác động Dự án giữa kỳ của Công ty Tư vấn độc lập Arthur D Little (Tây Ban Nha), Dự án TCNT II đã giúp 30% người vay cuối cùng lần đầu tiên được tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thức, 60% người vay cuối cùng lần đầu tiên mở tài khoản tiết kiệm tại các định chế tài chính chính thức. 77% người vay cuối cùng cho biết, họ hoàn toàn không thể thực hiện dự án của mình nếu không có khoản vay từ Dự án TCNT II. Bên cạnh đó, với khoảng 34% tổng số người vay vốn Dự án là nữ giới, Dự án đã khuyến khích vai trò tham gia của phụ nữ trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo tại khu vực nông thôn.
Ngoài nguồn vốn từ Cấu phần Tín dụng, Dự án TCNT II còn dành một khoản tài trợ 12 triệu USD từ Cấu phần Nâng cao năng lực thể chế để sử dụng cho các hoạt động mua sắm hàng hóa, dịch vụ tư vấn và đào tạo của các ngân hàng tham gia Dự án. Qua đó, Dự án đã hỗ trợ thành công cho BIDV (với vai trò là ngân hàng bán buôn) và các định chế tài chính tham gia tăng cường năng lực tài chính, hiệu quả hoạt động, nâng cao sức cạnh tranh và khả năng cung cấp các dịch vụ ngân hàng để phục vụ phát triển kinh tế cũng như cho khu vực nông thôn. Đã có trên 200 xe ô tô ngân hàng lưu động được mua sắm để phân bổ cho các chi nhánh ngân hàng tại các khu vực nông thôn nhằm mở rộng hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính chính thức cho người nghèo ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi chưa có chi nhánh ngân hàng phục vụ.
Thông qua các hoạt động dịch vụ tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật, các ngân hàng đã có điều kiện tiếp cận với các kỹ năng quản lý và công nghệ hiện đại. Dự án đã tài trợ cho gần 1.000 khóa đào tạo nâng cao năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ cho trên 22.000 cán bộ của BIDV và các định chế tài chính tham gia. Nhờ đó, các ngân hàng đã có điều kiện đầu tư và phát triển nguồn nhân lực nhằm phục vụ đắc lực cho chiến lược phát triển kinh doanh.
Đến nay, BIDV và các định chế tài chính tham gia Dự án đã có những cải thiện vững chắc về nền tảng vốn, mở rộng mạng lưới, áp dụng công nghệ hiện đại, kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, tăng khả năng sinh lời và duy trì tình hình tài chính lành mạnh như đã cam kết với WB khi bắt đầu triển khai Dự án.
Hơn nữa, các quy định về bảo vệ môi trường trong chính sách cho vay của Dự án cũng đã được tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Các dự án vay vốn đã không gây ra tác động xấu nào đến môi trường. Lần đầu tiên ở Việt Nam, các ngân hàng thương mại đã gắn kết các quy định về bảo vệ môi trường vào điều kiện vay vốn. Điều này đã góp phần tích cực trong nâng cao ý thức của người dân nông thôn tham gia bảo vệ môi trường khi thực hiện các phương án sản xuất - kinh doanh, một hoạt động vốn còn chưa phổ biến ở khu vực nông thôn cho đến gần đây.
Từ những thành công nói trên, Dự án TCNT II đã được WB đánh giá là một trong những dự án ODA của WB được triển khai thành công nhất tại Việt Nam trong thời gian qua. Qua đó, Dự án TCNT II đã góp phần rất lớn trong việc thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn gắn với xóa đói, giảm nghèo và phát triển hệ thống tài chính nông thôn bền vững.ª
TS Hoàng Huy Hà , Phó tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)