Nhân viên không vào công đoàn, hướng giải quyết?

Xem tin gốc 

Tuổi trẻ - Việc làm - 28 tháng trước 602 lượt xem

TTO - * Đầu năm 2009, Chính phủ có ban hành theo quyết định số 110/2008NĐ-CP ngày 10-10-2008 về hệ thống thang lương, bảng lương. Công ty tôi đã làm thủ tục đăng ký tăng mức áp dụng từ 620.000đ lên 800.000đ theo như quyết định của Chính phủ.

Tuy nhiên Phòng lao động - thương binh & xã hội nơi tôi đăng ký yêu cầu công ty phải thành lập công đoàn mới quyết định duyệt hệ thang lương bảng lương. Hiện nay công ty tôi có tất cả chín nhân viên. Theo tôi được biết công đoàn không bắt buộc công nhân tham gia mà do mình tự nguyện.

Khi tôi hỏi ý kiến từng người trong công ty về gia nhập công đoàn, họ đều từ chối vì phải đóng 6% bảo hiểm xã hội (BHXH) và 1% bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), nay nếu gia nhập công đoàn họ lại đóng thêm 1% phí công đoàn. Như vậy công ty tôi có phải thành lập công đoàn hay không?

- Điều 153 BLLĐ quy định: ở những doanh nghiệp đang hoạt động chưa có tổ chức công đoàn thì chậm nhất sau sáu tháng, kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động có hiệu lực (ngày 1-1-2003) và ở những doanh nghiệp mới thành lập thì sau sáu tháng, kể từ ngày bắt đầu hoạt động, công đoàn địa phương, công đoàn ngành có trách nhiệm thành lập tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp để đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và tập thể lao động.

Người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức công đoàn sớm được thành lập. Trong thời gian chưa thành lập được thì công đoàn địa phương hoặc công đoàn ngành chỉ định ban chấp hành công đoàn lâm thời để đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và tập thể lao động. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc thành lập và hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp.

Khoản 3 Điều 5 nghị định số 114/2002/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về tiền lương quy định như sau: người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động theo các nguyên tắc được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 5 nghị định số 114/2002/NĐ-CP, sau khi tham khảo ý kiến của ban chấp hành công đoàn cơ sở và phải công bố công khai trong doanh nghiệp, cơ quan. Thang lương, bảng lương phải được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi doanh nhiệp, cơ quan đặt trụ sở.

Khoản 1, khoản 2 mục III thông tư số 13/2003/TT-BLĐTBXH, ngày 30-5-2003 của Bộ Lao động - thương binh và xã hội đã được sửa đổi bổ sung theo thông tư số 28/2007/TT-BLĐTBXH, ngày 5-12-2007 (hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định số 114/2002/NĐ-CP về tiền lương đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp) quy định:

1. Thang lương, bảng lương theo khoản 1 và khoản 3, Điều 5 nghị định 114/2002/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:

a) Doanh nghiệp có trách nhiệm xây dựng thang lương, bảng lương, tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật, chức danh, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ làm cơ sở ký kết hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể, xác định quỹ lương, trả lương, nâng bậc lương và giải quyết các chế độ khác cho người lao động.

b) Việc xây dựng thang lương, bảng lương phải bảo đảm nguyên tắc quy định tại khoản 1, Điều 5 nghị định số 114/2002/NĐ-CP, trong đó:

c) Doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tại phụ lục số 1 kèm theo thông tư này hoặc áp dụng các phương pháp khác phù hợp để xây dựng thang lương, bảng lương.

d) Khi xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung thang lương, bảng lương, doanh nghiệp phải tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn lâm thời và công bố công khai trong doanh nghiệp.

đ) Doanh nghiệp phải đăng ký hệ thống thang lương, bảng lương (kể cả thang lương, bảng lương được sửa đổi, bổ sung) với cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở chính của người sử dụng lao động trước khi công bố áp dụng trong doanh nghiệp.

Hồ sơ đăng ký thang lương, bảng lương gồm:

- Công văn đề nghị đăng ký;

- Hệ thống thang lương, bảng lương doanh nghiệp xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung;

- Bản quy định các tiêu chuẩn và điều kiện áp dụng đối với từng chức danh hoặc nhóm chức danh nghề, công việc trong thang lương, bảng lương;

- Ý kiến tham gia của Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn lâm thời trong doanh nghiệp.

e) Khi nhận đủ hồ sơ đăng ký, trong vòng 15 ngày (tính theo ngày làm việc), cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở chính của người sử dụng lao động phải có văn bản thông báo việc đã đăng ký hệ thống thang lương, bảng lương của doanh nghiệp.

Trong thời hạn nêu trên, nếu phát hiện hệ thống thang lương, bảng lương do doanh nghiệp xây dựng, đăng ký không theo đúng quy định tại các khoản 1 và 2 mục III của thông tư này thì phải có văn bản yêu cầu doanh nghiệp xây dựng lại theo đúng quy định. Cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm bảo đảm bí mật hệ thống thang lương, bảng lương của doanh nghiệp đã đăng ký.

Chiếu theo các quy định pháp luật nêu trên, trong hồ sơ đăng ký thang lương, bảng lương của công ty bạn bắt buộc phải có ý kiến tham gia của ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn lâm thời trong doanh nghiệp. Trường hợp công ty bạn chưa thành lập tổ chức công đoàn, công ty bạn có thể liên hệ với công đoàn địa phương nơi công ty đóng trụ sở để đề nghị công đoàn địa phương chỉ định BCH công đoàn lâm thời cho công ty.

Theo quy định tại điều 153 BLLĐ thì công ty bạn bắt buộc phải thành lập tổ chức công đoàn (công đoàn cơ sở). Việc thành lập công đoàn cơ sở trong công ty bạn thuộc trách nhiệm của công đoàn địa phương nơi công ty đặt trụ sở hoặc công đoàn ngành. Công ty bạn có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức công đoàn sớm được thành lập.

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang