Rượu ngô chảy đến từng huyết mạch, ấm nóng mọi bàn tay. Trong bản, nhà nào nhà nấy vắng ngắt, người người đều đi hội “nhẩm lẩu” - một ngày hội uống rượu, hát sli được ưa thích nhất của người Nùng Lạng Sơn.
Lễ hội nhẩm lẩu có bản sắc văn hóa Nùng rất riêng biệt và đặc sắc.
Người Nùng ở mỗi địa phương có các tên gọi khác nhau như: Xuồng, Nùng cháo, Phàn slình, Nùng an... nhưng chỉ có ở Lạng Sơn, nơi người Nùng sinh sống mật độ đông đúc được xem là còn giữ được bản sắc văn hóa nguyên bản và nhiều “chất Nùng” nhất. Khác với các bản làng của người Mông, Dao thưa vắng khuất nẻo, bản của người Nùng nằm dọc theo các con sông suối gần nguồn nước, hoặc tụ trên các sườn đồi thoai thoải quanh các chân ruộng có thể cấy trồng được. Người Nùng sống gần gụi, mỗi nhà cách nhau hàng rào đá, cài hoa xương rắn li ti màu đỏ, mỗi buổi chiều khói bếp lan có thể làm cay mắt hàng xóm. Mùa xuân này hoa sưa bừng nở quanh các nếp nhà trình tường. Giống hoa này không biết giấu mình, nở rực rỡ từ xa cách vài cây số đã trông thấy. Thấy chúng tôi đứng lặng trước một cây sưa từng bị sét đánh cụt ngọn, giờ đâm ra nhiều cành non nở hoa trắng, cụ ông bước từ bản ra bắt chuyện. Cụ nói người Nùng có một cái tên riêng để gọi loại hoa này, nhưng cụ không biết dịch tên ấy ra tiếng Kinh như thế nào! Trước đây, người Nùng thường giã hạt của cây để làm mồi nhử cá suối. Bây giờ cây sưa còn lại rất ít, vài cây đứng đơn côi, mỗi độ xuân về lại nở hoa trắng báo hiệu một mùa lễ hội lồng tồng, hội nhẩm lẩu đang tới náo nức lòng người...
Ngày hội đến, khắp vùng biên cương rực màu áo mới. Những thiếu nữ Nùng, Tày du xuân không thể thiếu những chiếc ô đủ màu sắc. Nếp khăn thêu mới tinh làm duyên với mái tóc đen nhánh, cười khoe chiếc răng bọc kim loại làm duyên, đưa mắt bồ câu lọc trong đám đông ken dày người đi hội tìm một ý trung nhân. Phụ nữ Nùng thêu khăn trên vải trắng, họa tiết nhỏ tinh xảo. Lúc quấn khăn lên đầu, các họa tiết trang trí cho mái tóc trước trán, đuôi vải dài ở phía sau bay như cánh én.
Các cô gái Nùng chưa chồng với mái tóc “hỉ nhi” đặc trưng.
Những cô gái đi trảy hội, trông như hàng ngàn cánh én tung tăng báo xuân về, thấp thoáng như trong câu hát sli “én nhạn giao ca”, tha thiết trao gửi tâm tình, hờn dỗi trách móc: Ơi người quen ơi, năm trước cũng gặp ở chỗ này, hát câu này, năm nay có còn nhớ đã nói gì với nhau không? Trong ngày hội, nam nữ hát sli là hát vo, thậm chí xuất khẩu thành sli. Sli như lời hỏi han, tâm sự, trêu ghẹo, đối đáp thành vần, thành giai điệu tha thiết. Kỳ diệu thay, lúc nghe những lời sli không được đệm đàn ấy, như lại thấy sức sống mãnh liệt của nguồn cội, của núi rừng, ruộng nương đã bao đời nuôi sống và bao bọc con người nơi đây. Người hát sli phải lấy hơi rất công phu, dồn từ đáy thanh quản để phát ra tiếng thật vang, bay vút thật xa ở giữa một ngày hội đông người nhiều tiếng ồn ào pha tạp xung quanh. Điều này là sự khác biệt của sli với các thể loại âm nhạc truyền thống thính phòng. Hát thính phòng thì tiếng hát như âm gió, như xuất phát từ trong hộp sọ của nghệ nhân. Nói về sli, người Nùng thường tự hào rằng, câu sli của họ cất lên làm “cá chết chín đoạn suối, chuột chết mười cánh rừng”, làm trai gái nghe hết thảy đều buồn rười rượi thương nhớ nhau chỉ muốn lập tức trèo đèo lội suối mà sang gặp mặt...
Một lý do để các điệu hát sli, lượn, then... của các tộc người Tày, Nùng còn mãi, lưu truyền từ đời này sang đời khác chính vì họ vẫn còn bảo tồn được không gian sống, nếp nghĩ, nếp sinh hoạt và tín ngưỡng lâu đời. Ta có thể bắt gặp ở các bản Tày, Nùng, còn nguyên các nếp nhà trình tường đông ấm hè mát. Nếu may mắn, ta còn được chủ nhân của những ngôi nhà trình tường ấy hát cho nghe những điệu sli, then, cọi với đầy đủ tiếng đệm của cây tính tẩu cũ kỹ, bằng tuổi của gia chủ. Bản thân tính trong tiếng Tày có nghĩa là “đàn” còn tẩu nghĩa là quả bầu khô. Thật kỳ lạ, một quả bầu khô gắn trên khúc gỗ quế nối dây tơ chuốt mật ong rừng lại có thể kết thành bộ đôi với những câu hát then hợp duyên đến thế. Trong ngôi nhà trình tường kín đặc như một tổ mối, giọng hát then dù được gia chủ hát vừa đủ nghe nhưng lại âm vang như trong một nhà hát chuyên nghiệp không cần bất cứ hình thức kích âm nào.
Mùa xuân sao có thể không đi hội nhẩm lẩu? Phải uống qua kỳ chạm chén, rồi chéo chén, “lày cỏ” (một trò chơi giống “oẳn tù tì”, thua thì uống) mới là nhẩm lẩu kiểu người Nùng, người Tày. Dù khách có là ai, đến bản vẫn là khách quý, được tiếp đãi bằng rượu và thịt lợn quay nhồi lá móc mật. Đây là thói quen ăn uống của người sống quanh năm với sương mù. Họ rất thích đồ ăn béo, có nhiều mỡ và rượu, bởi đó là cách làm ấm người nhanh nhất. Trong hội nhẩm lẩu Ba Sơn - một nơi cách thành phố Lạng Sơn gần 40 cây số và giáp đường biên giới, hội chỉ bán rượu và thịt lợn quay tuyệt ngon là đồ ăn. Tan hội rồi, khách chùng chình không muốn ra về, phần vì rượu đã ngà say, phần vì hình như đã gửi lại lưu luyến ở màu tường đất ấm nồng và đỉnh núi sương giăng, gửi lại ở nếp khăn bay trong hội nhẩm lẩu xuân này.
Hoàng Thủy Trường

