Làm lợi cho nông dân hàng ngàn tỉ đồng mỗi năm
Bộ môn Sinh thái côn trùng và Phòng trừ sinh học của Viện Lúa ĐBSCL được thành lập vào tháng 9-1995, lúc chị Lộc lấy bằng tiến sĩ ở Ấn Độ về.
Trong 15 năm qua, chị đã chủ trì và tham gia thực hiện 34 đề tài, dự án. Chị tâm đắc nhất với đề tài: “Nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng hai chế phẩm sinh học để quản lý các loài sâu hại lúa”, được Bộ NN&PTNT đánh giá là xuất sắc về mặt khoa học. Hai chế phẩm này (tên thương mại là Ometar và Biovip) đã được ban tổ chức hội chợ Nông nghiệp và Thủy sản Quốc tế Cần Thơ trao tặng hai giải thưởng Bông lúa vàng Việt Nam vào cuối năm 2002 và hiện nay đã được ứng dụng rất hiệu quả trong việc phòng trừ rầy nâu, bọ xít hại lúa, bọ cánh cứng hại dừa tại các tỉnh ở ĐBSCL.
Trước dịch rầy nâu bùng phát mạnh mà chế phẩm sinh học chỉ sản xuất 3 tấn/tháng, trong khi nhu cầu cả vùng là 100 tấn/tháng. Sản phẩm không tổn hại môi trường nhưng giá cao, không đủ cung. Từ năm 2007 tới 2009, chị tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất hai chế phẩm này để có thể chuyển giao cho nông dân tự sản xuất, giá rẻ. Quy trình này hiện đã được chuyển giao và ứng dụng có hiệu quả cho nông dân miền Tây. Chế phẩm nấm xanh Ometar nông dân tự sản xuất đã có hiệu quả cao. Chỉ cần phun 1-2 lần là đã khống chế được rầy nâu trong suốt vụ. Chỉ cần chi phí 50.000-100.000 đồng cho mỗi hecta, rẻ bằng một phần mười so với phun thuốc hóa học mà không gây ảnh hưởng xấu môi trường. Sản xuất rất đơn giản. Sau khi tập huấn, bất cứ bà con nông dân nào cũng làm được, mang lại lợi nhuận 1,5-2 triệu đồng/ha so với dùng thuốc hóa học.
Chị Lộc hướng dẫn cán bộ kỹ thuật tỉnh Bình Định cách sản xuất chế phẩm sinh học diệt rầy. Ảnh: NGUYỄN NGỌC
Tại Hội nghị khoa học vùng ĐBSCL tổ chức ngày 27-5-2010 ở Trà Vinh, Thứ trưởng Nguyễn Quân - Bộ Khoa học và Công nghệ nói: “… Nếu quy trình này được ứng dụng trên toàn bộ diện tích sản xuất lúa ở ĐBSCL thì mỗi năm góp phần làm tăng lợi nhuận 8.000 tỉ đồng cho bà con nông dân”.
Không thể tính toán hơn thiệt với dân
Trả lời cho câu hỏi vì sao học ĐH là ngành trồng trọt, học thạc sĩ về côn trùng học nhưng sau chị lại chuyển hướng về hệ sinh thái côn trùng và phòng trừ sinh học, chị cười: “Bắt đầu từ thực tế và cái duyên với khoa học nữa”.
Lúc mới về Viện Lúa, lóng phèn nước sông để dùng hằng ngày. Nước từ ruộng đồng đổ ra hòa lẫn phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, chị ước gì thuốc bảo vệ thực vật không độc hại! Lúc làm nghiên cứu sinh ở Ấn Độ, tình cờ ngang qua một thửa ruộng bị cháy rầy nâu, máu nghề nghiệp khiến chị xuống ruộng xem. Nhiều con rầy bị chết, trên thân có mọc nấm mốc. Chị thắc mắc hỏi thầy giáo: “Rầy chết do nấm hay nấm mọc trên thân con rầy đã chết?”, ông cười: “Tôi là nhà côn trùng học chớ có phải nhà vi sinh học đâu?”. Vậy là chị tìm các nhà vi sinh học, tìm tài liệu để giải câu hỏi của mình. Chị vào phòng thí nghiệm để phân lập nấm và thí nghiệm. Kết quả là chị phát hiện rầy chết do nấm xanh Metarluzium Anisolia. Vậy là luận án tiến sĩ của chị làm đề tài này, chị là nhà khoa học đầu tiên ở miền Bắc Ấn Độ dùng nấm để diệt côn trùng và được giải thưởng của Ấn Độ.
Hỏi chị rằng khoa học là tài sản của nhân loại, còn công nghệ là tài sản của cá nhân, tại sao chị lại chuyển công nghệ sản xuất nấm vi sinh diệt sâu rầy cho nông dân, chị cười rất tươi: “Nhà nước, nhân dân nuôi tôi ăn học, tôi phải có nhiệm vụ đem kiến thức phục vụ cho mọi người. Quy trình mà tôi chuyển giao cho nông dân, chỉ sản xuất sản phẩm thô, dùng ngay không thể để lâu. Còn sản xuất thành chế phẩm thương mại phải bảo quản trong một năm lại khác. Trong tình huống dịch rầy nâu đe dọa cả vùng, chế phẩm thương mại không thể đáp ứng đủ, mình không nên tính toán hơn thiệt cho cá nhân”.
Tập huấn cho nông dân Trà Vinh sản xuất chế phẩm Ometar. Ảnh: NGUYỄN NGỌC
Chị nói: “Nhiều doanh nghiệp muốn tôi chuyển giao quy trình sản xuất cho họ. Tôi cần hoàn thiện thêm. Dĩ nhiên trong xu thế hội nhập quốc tế, nông sản phải sản xuất theo hướng sạch, vì thế tất yếu nhà sản xuất cũng phải vi sinh hóa chế phẩm bảo vệ thực vật thôi”.
Phía sau người phụ nữ thành công
Trong gia đình, với vai trò là người vợ, người mẹ, chị đã cố gắng sắp xếp công việc và các hoạt động khác một cách khoa học nhất để có điều kiện chăm lo cho gia đình và nuôi dạy con cái. Hai con của chị đều học giỏi. Con trai nhận được học bổng toàn phần của Vương quốc Anh, tốt nghiệp loại giỏi thạc sĩ về công nghệ thông tin và nay đang tiếp tục nghiên cứu sinh. Con gái tốt nghiệp ĐH Ngoại thương loại giỏi, nhận học bổng toàn phần của Vương quốc Anh và nay vừa tốt nghiệp xuất sắc thạc sĩ ngành tài chính ngân hàng. Vợ chồng chị vừa đi Anh quốc dự lễ tốt nghiệp của con theo lời mời của trường.
Nhắc tới đây, chị cảm động nói: “Nhớ lúc tôi đi học ở Ấn Độ, chồng tôi ở nhà nuôi hai con nhỏ, hai con heo và hai con dê. Còn tôi bên ấy phải tằn tiện lắm mới đủ sinh hoạt. Anh đã nuôi dạy và định hướng con nên người. Nếu ai hỏi tất cả thành tích dành tặng ai, tôi xin nói ngay là tặng chồng”.
Người ta thường nói thành công của người đàn ông có bóng dáng người đàn bà. Bây giờ chắc phải bổ sung điều ngược lại. Người phụ nữ ấy, chị Nguyễn Thị Lộc, thật xứng đáng với giải thưởng Kovalevskaia vì những đóng góp xuất sắc cho khoa học, người phụ nữ “vàng” của nông dân ĐBSCL.
Quỹ giải thưởng quốc tế Kovalevskaia (tên nhà nữ toán học người Nga, thế kỷ XIX) được thành lập năm 1985 với sự đóng góp ban đầu của hai vợ chồng GS người Mỹ Ann và Neal Koblitz. Từ năm đó, vợ chồng GS đã chọn các nhà khoa học nữ Việt Nam về lĩnh vực khoa học tự nhiên làm đối tượng để xét và trao giải thưởng Kovalevskaia. Ngoài Việt Nam, quỹ đã hỗ trợ cho một số nước phát triển khác là Peru, El Salvador, Nicaragua, Mexico, Cuba, Nam Phi, Mozambic. Cho đến năm 2009, giải thưởng đã được trao cho 31 cá nhân và 15 tập thể các nhà khoa học nữ xuất sắc của Việt Nam...
Ngày 8-3-2011, giải thưởng Kovalevskaia năm 2010 đã được trao cho hai nhà khoa học nữ xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên đó là: PGS-Tiến sĩ Lương Chi Mai - Phó Viện trưởng, Trưởng phòng Nhận dạng và Công nghệ tri thức, Viện Công nghệ Thông tin, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Tiến sĩ Nguyễn Thị Lộc - Trưởng bộ môn Sinh thái côn trùng và Phòng trừ sinh học - Viện Lúa ĐBSCL vì những đóng góp to lớn cho nền khoa học nước nhà.
NGUYỄN NGỌC
