Người phụ nữ Việt Nam trong dòng chảy thi ca

Báo Công Thương - 08/03/2011 09:30

Nguoi phu nu Viet Nam trong dong chay thi ca

Đất nước Việt Nam- đất nước của những câu hát ru ngọt ngào, đất nước của cánh cò trắng bay, đất nước của bàn tay mẹ tảo tần qua bao năm tháng… và từ trong cái nguồn mạch dạt dào ấy, người phụ nữ kết tinh của non nước ngàn năm, là đề tài chưa bao giờ vơi cạn trên đầu ngọn bút của người nghệ sĩ, qua nhiều thời đại khác nhau.

CôngThương - Thời kỳ phong kiến

Cả nước Việt chìm trong những ràng buộc, lễ giáo khắc nghiệt tối tăm. Và vô hình chung, số phận của người phụ nữ cũng không thể nào vượt ra khỏi ranh giới của hoàn cảnh xã hội. Trong thơ ca, họ hiện lên là những kiếp người nhỏ nhoi, bất hạnh. Một nàng Kiều tài sắc vẹn toàn mà cuộc đời lênh đênh trong suốt 15 năm lưu lạc; một Hồ Xuân Hương khát khao hạnh phúc mãnh liệt mà trọn đời ngao ngán bởi phận “làm lẽ”, “kiếp chồng chung”… Rồi trên thi đàn Việt Nam lúc ấy, còn biết bao người phụ nữ cũng cùng một số phận như vậy khiến Nguyễn Du - đại thi hào dân tộc phải đau đớn mà thốt lên: “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. Hai câu thơ cất lên trong hoàn cảnh mà con người bị cương tỏa bởi “vòng kim cô” của lễ giáo phong kiến, của những “tam tòng tứ đức”… Người phụ nữ càng đẹp, càng tài, càng lắm bất hạnh, khổ đau. Nguyên nhân vì đâu thì vào cái thời đại ấy chưa có câu trả lời. Và do đó mà câu thơ của Nguyễn Du chính là khúc “bạc mệnh” tấu lên cho mọi “kiếp hồng nhan”.

Giai đoạn đầu thế kỷ XX

Hơn một trăm năm sau, hình ảnh người phụ nữ trong văn học dưới ngòi bút của các nhà thơ có cách nhìn nhận khác. Không còn thấy những tiếng than thân trách phận; những lời thở than đau buồn…, người phụ nữ Việt Nam trong văn học hiện đại Việt Nam 1930 - 1945 trở về với nét đẹp giản dị đời thường và với những công việc thường nhật.

Hình ảnh người phụ nữ trong thơ ca giai đoạn này không hẳn là đề tài chính, nhưng ít nhiều cũng thấy thấp thoáng trong thơ của một số nhà thơ trong phong trào Thơ mới. Chẳng còn là tiếng kêu thổn thức, cũng chẳng thấy tiếng khóc nấc lòng… người phụ nữ Việt Nam hiện lên với vẻ đẹp giản dị của cuộc sống, với lo toan đời thường. Hẳn trong mỗi chúng ta, không ai quên được hình ảnh người mẹ với “Nét cười đen nhánh sau tay áo/ Trong ánh trưa hè trước giậu thưa” trong thơ Lưu Trọng Lư, càng không thể quên được nét đằm thắm, dịu dàng của người mẹ “khuyên vành áo thắm, áo the nâu” trong “Đường về quê mẹ” - Đoàn Văn Cừ. Và tiêu biểu hơn cả, chúng ta thấy hình ảnh người mẹ thôn quê được hiện lên rất chân thực trong thơ Nguyễn Bính với nét đẹp của người mẹ Việt Nam truyền thống tảo tần, đảm đang, giàu lòng yêu thương và đức hi sinh. Ai như mẹ trong ngày Tết biết lo toan, vun vén như thế này ? “Giết lợn, đồ xôi, lại giết gà/ Cỗ bàn xong cả từ hôm qua/ Suốt đêm giao thừa mẹ tôi thức/ Lẩm nhẩm cầu kinh Đức Chúa Ba” (“Tết của mẹ tôi” - Nguyễn Bính).

Thời kỳ kháng chiến 1945 - 1975

Trong không khí của cuộc cách mạng sục sôi và dưới ánh sáng của lý tưởng mới, hơn bao giờ hết hình ảnh người phụ nữ hiện lên với vẻ đẹp mới - vẻ đẹp của những con người đã được giải phóng, được tháo ra khỏi vòng cương tỏa của lễ giáo phong kiến của thời, để hòa mình vào công cuộc chung của đất nước. Đó là những cô thanh niên xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn “Em đứng bên đường như quê hương/ Vai áo bạc quàng súng trường” (Lá đỏ - Nguyễn Đình Thi ) hoặc có thể là những cô gái Nam Bộ “dịu dàng như những nàng tiên”, là những “cô du kích, giao liên” của chốn quê hương gian khổ mà anh dũng trong “Trở về quê nội” - Lê Anh Xuân… Tất cả đều hiện lên đẹp đẽ bởi mang trong mình hồn thiêng của sông nước. Khác với Nguyễn Du đã từng treo lơ lửng một câu hỏi lớn: “Đau đớn thay phận đàn bà / Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?”. Nay, là người đại diện cho dân tộc, nhà thơ Huy Cận trong bài thơ “Ca ngợi người phụ nữ Việt Nam” (1966) viết: “Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử/ Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ”. Nhà thơ như hóa thân vào người phụ nữ để tự hào mà nhủ thầm rằng: trong cuộc sống hôm nay, người phụ nữ là một phần của lịch sử, họ tạo nắng cho nhân gian và tạo nắng cho thơ - nghĩa là họ làm đẹp cho cuộc đời, họ cũng là cảm hứng của thi sĩ...

Văn học sau Đổi mới

Vẫn không ngừng khám phá, thể hiện hình tượng người phụ nữ. Nhưng sau cuộc chiến tranh, đất nước hòa bình trở lại, họ đã khác nhiều về tâm tư, tình cảm và cả những khát vọng yêu thương. Nếu coi “thơ ca là tiếng nói của tâm hồn” thì hơn bao giờ hết thời đại tự do đã cho phép người phụ nữ nói rõ những cung bậc của lòng mình. Họ hiện lên trong thơ như con người giữa đời thường tâm sự với ta về cuộc đời, tình yêu về sự sống (điển hình là thơ Xuân Quỳnh). Và đặc biệt, chưa bao giờ ta thấy nhu cầu hạnh phúc, nhu cầu tự do đến tột độ như tình yêu lại hiện lên rõ nét như trong thời kỳ này khi đến với thơ của Phan Huyền Thư hay Vi Thùy Linh… Nếu xưa kia, Hồ Xuân Hương đã từng tung hê, nhạo báng tất cả… mà rốt cục, vẫn không khỏi ngao ngán, ngậm ngùi vì muốn vùng vẫy, muốn bứt phá mà không được; thì ngày hôm nay, người phụ nữ có quyền được sống đúng với xúc cảm và bản năng yêu đương của mình. Địa hạt tự do ấy đã cho phép Vi Thùy Linh viết lên những câu thơ kiểu như: “Trong dữ dội em khát khao bình yên/ Em muốn ngủ trong anh như rễ cây trong đất/ Em trổ nhịp mong từ căn phòng trống/ Hằn nơi em, cả mảng trời bầm tím/ Em ép mình trong tiếng khóc khô”. Quả là một hơi thở khoáng đạt và một tấc lòng cháy bỏng xiết bao!.

Có ai đó nói rằng: “Người phụ nữ là một nửa thế giới”. Và quả thật, họ đã đi vào những trang viết chảy suốt trong văn học từ trước đến nay, để rồi không chỉ làm nên một nửa, mà là trọn vẹn tấm hình trong sâu thẳm tâm hồn thế hệ người đọc hôm nay và cả mai sau.

Tin mới