Thác sông Đà định giết tươi, xé xác đò và người lái, được miêu tả dưới ba dạng: Đá dữ, sóng dữ, thanh âm dữ.
“… Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào… nhô vào đường ngoặt sóng là một số hòn bèn nhổm cả dậy vồ lấy thuyền”.
“Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết… một cái thuyền đơn độc không biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận sẵn”.
“Đá ở hàng tiền vệ ra vẻ sơ hở hiểm độc dụ thuyền lao vào cửa tử, nếu thoát được qua tuyến giữa thì những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi” ở tuyến ba phải đánh tan, tiêu diệt đối thủ ngay ở chân thác!"…
“Ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị sóng trận địa phóng thẳng vào mình… Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái, mà thúc gối vào bụng vào hông thuyền (…) Sóng thác đã đánh đến miếng đòn độc hiểm nhất, cả cái luồng nước vô sở ấp bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò, hột sinh dục muốn phọt lên cổ (…) Sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm”.
… “Tăng thêm mãi tiếng hỗn chiến của nước của đá, thác…” “… nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt”…
Ba dạng trên hỗn trộn vào nhau, hùa nhau, kết chặt nhau thành một thứ kẻ thù trùm ưu thế suốt những trường đoạn đặc tả cuộc chiến đấu căng thẳng đến từng tích tắc của người lái đò tuyệt vời khôn ngoan và dũng cảm. Con người đó đã lách qua vượt qua những luồng chết mai phục đầy rẫy, phóng trúng vào luồng sinh khi khuất bên phải, khi chệch ra bên trái, khi nằm ngay giữa những luồng chết, bay qua những chặng hiểm nguy cuối cùng “thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước…”.
“Thế là hết thác. Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. Đã là hay lắm. Nhưng sau khi tả rất thấm thía rất văn xuôi hiện đại, nghĩa là thật một cách rất tự nhiên “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá đầm xanh…”. Nguyễn Tuân còn viết tiếp ở đoạn kết thác này… “Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu, với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp đáng nhớ… Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo”.
Khác hẳn hàng trăm dòng phải triển “gân bút” tạo “văn khí” để lột tả cho rõ ràng, chân xác mà lại đầy tài hoa cuộc chiến đấu và thắng thác trên kia, những dòng văn sau giản dị, trầm ấm biết mấy. Chúng khắc họa thật trúng chân dung những người lao động tài năng tuyệt vời của sông Đà. Họ là những người lương thiện làm ăn bản chất không phô trương, họ bình dị đến mức âm thầm thế đấy, mặc dù họ là “linh hồn muôn thuở của sông nước này” như chính Nguyễn Tuân tụng ca ở đoạn vào bài. Sống với họ hiểu biết “chiến công” xuất sắc mà hàng ngày của họ, Nguyễn Tuân càng yêu họ hơn. Cho nên ông không to tiếng ca ngợi họ, mà kín đáo tặng họ một câu văn thật duyên dáng, thật âm điệu khi kết đoạn… “Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo”.
Đoạn văn thật ấm dịu, giản dị kia, còn hay hơn cả cái hình ảnh mà Nguyễn Tuân muốn nhấn sâu, tôn cao khi tiếp đấy ông tưởng tượng dôi ra cảnh máy bay “là là trên thác mà gí máy (quay phim) xuống mà lượn ống máy theo những luồng xinh của thác, trên thác hiên ngang một người lái đò sông Đà có tự do, vì người lái đò ấy đã nắm được cái quy luật tất yếu của dòng nước sông Đà”.
Nhưng phải công bằng, đoạn này lại hay ở một phương diện khác của văn Nguyễn Tuân: Giàu tri thức và am việc đời, khái quát lên từ một người lái đò sông Đà cụ thể.
Trúc Thông