Với tôi, đã nhiều lần lên vùng đất nơi thượng cùng cực bắc, nhưng lần nào đến đây, ngước nhìn lên ngọn Lũng Cú cũng thấy lòng mình trào dâng nỗi niềm cảm động. Nói đúng hơn, không chỉ riêng tôi, mà tất cả con dân đất Việt khi đặt chân tới vùng đất mà mỗi ngọn gió cũng mang theo hồn thiêng sông núi của một miền biên viễn hào hùng, đều có phút giây bỗng trái tim dồn nhịp đập vì niềm tự hào dân tộc. Lần này, khi đến cột cờ Lũng Cú, chúng tôi-lòng rạo rực hơn, bởi đây là chuyến đi cuối năm, lại chọn ngày áp Tết Nguyên đán xuất hành. Vì thế lòng dạ ai nấy ngổn ngang, nhưng chúng tôi động viên nhau: Trên vùng đất cụ Nguyễn Tuân gọi là "tột Bắc", còn có những người lính biên phòng đứng canh giữ mùa xuân.
Biết chúng tôi lên, Thượng tá Nguyễn Hải Lý, Trưởng Đồn Biên phòng Lũng Cú đang có cuộc giao ban ở Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Hà Giang cũng tức tốc ngược hơn 200 cây số về đơn vị. Là chỗ đã quen biết từ trước, nên giữa chúng tôi không phải rào đón. Thượng tá Lý hóm hỉnh, bảo: Các ông mang nắng lên cho anh em chúng tôi đón xuân, may quá, vì trên này vừa trải qua đợt mưa, rét kinh người, nhiều nghệ sĩ vác máy lên đây sáng tác đều phải về không... Anh Lý là người con của vùng đất Thanh Thủy (Phú Thọ). Vào quân ngũ, làm sĩ quan biên phòng từ hơn ba chục năm nay. Đời lính, xa nhà mãi cũng quen, đến cả vợ, con ở quê cũng quen một năm có lần phép, ghé nhà, vội thăm hai bên nội, ngoại, việc nhà trông cả vào đôi bàn tay khéo léo của vợ. Anh bảo: "Lính là thế, vô tư đi". Nhưng tôi biết trong sâu thẳm lòng anh cũng có những phút giây chạnh lòng nghĩ suy về cuộc đời, về nhân tình thế thái. Song anh không cho phép mình có giây phút lơ là trước nhiệm vụ Đảng, Nhà nước giao.
Ngay trước sân đơn vị, những gốc đào cổ đã nở rực hoa báo hiệu mùa xuân về. Tôi thầm nhủ: Đã bao mùa hoa đào trôi qua, thì bấy nhiêu mùa xuân vương lên mảnh đất địa đầu Tổ quốc, nhưng xuân biên cương lặng lẽ hơn trong nỗi nhớ nhà. Có lẽ phải kể từ thuở các Vua Hùng dựng nước cho tới xuân nay, miền biên viễn nơi cực bắc vẫn vẹn nguyên từng tấc đất. Nhưng cũng suốt dòng lịch sử hơn bốn nghìn năm, vùng đất biên cương này ví tựa bản trường ca có khi thăng, lúc giáng; có những cung bậc bi tráng, hào hùng như ngọn nguồn dòng sông Nho Quế bên Mù Cảng, Vân Nam (Trung Quốc) đổ vào Lũng Cú, đất Việt. Từ bản Séo Lủng, nơi "chóp nón" địa đầu trên bản đồ Tổ quốc, có thể nhìn tới mặt sông, hun hút một mầu xanh yên bình. Nhưng đã là sông thì tránh sao khỏi lúc lên ghềnh, xuống thác. Không nằm ngoài quy luật ấy, dòng Nho Quế ùa chảy vào Việt Nam, khởi đầu từ Lũng Cú (Đồng Văn), sang Cốc Pàng (Bảo Lạc, Cao Bằng), lại quay ngoắt về Tĩnh Tây (Trung Quốc). Một dòng sông đỏng đảnh nhưng cũng đầy cay nghiệt. Bởi sông đấy, nước đấy, mà những tháng khô hạn trong năm, ngay như dịp Xuân về Tết đến, nhiều cư dân bên bờ phải sống cảnh khô khát. Thượng úy Khổng Tuấn Khải tâm sự: Nước sinh hoạt năm nào cũng bắt đầu thiếu từ cuối mùa mưa. Suốt mấy tháng mùa khô, cán bộ, chiến sĩ Đồn cũng... ít tắm. Lính tráng toàn đàn ông với nhau thì chẳng sao, nhưng thỉnh thoảng cán bộ - chiến sĩ nào đón vợ lên chơi thì thôi rồi... thương lắm. Chị nào sơ ý giội ào ào vài xô cho sạch sẽ bụi đèo Bắc Sum (Quản Bạ), dốc Cổng trời (Yên Minh) thì ai nấy gan ruột bồn chồn vì sợ hết nước thổi cơm. Cũng may, những người phụ nữ làm vợ biên phòng cũng biết ý tứ lắm, nên chuyện nước giội xô, đổ thùng chưa có. Cũng vì ở đây, các ông chồng biên phòng hễ vừa thấy vợ lên là nhắc nhỏ: Nước, cán bộ, chiến sĩ Đồn phải uống dè em ạ...
Thượng úy Khải quê ở phường Trần Phú (thị xã Hà Giang), 20 năm trong quân ngũ, trải qua các đồn Bạch Đích (Yên Minh), Nghĩa Thuận (Quản Bạ), Đồn Đồng Văn rồi mới về nhận nhiệm vụ tại Đồn Lũng Cú từ tháng 11-2009. Năm nay, ăn Tết ở đơn vị, cũng là cái Tết thứ 11 xa nhà. Nhớ vợ, thương con, thôi cũng đành gửi lời vào gió (sóng điện thoại)... Như thế đã là may, vì hơn chục năm trước đây thôi, những người lính biên phòng, chủ yếu là người miền xuôi lên nhận nhiệm vụ, nhớ nhà cũng chỉ bằng cách viết thư, gửi qua đường bưu điện. Do đường núi hiểm trở, dặt dốc cua tay áo, lại không có tuyến xe, nên có trường hợp thư gửi cả tháng, khi về thăm nhà lại nhận được thư mình viết.
Vẫn chuyện nước sinh hoạt, Thiếu úy Bùi Đức Minh, người Hà Nội, Trạm Trưởng biên phòng Mã Lùng Kha cho biết: Suốt mấy tháng mùa khô, cánh lính biên phòng chúng tôi đều ngầm hiểu nước trước tiên phải dành cho nấu ăn, việc tắm giặt hạn chế. Còn Trung úy Vàng Mí Say cho biết: Không chỉ Trạm Mã Lùng Kha, bên Tổ Lũng Cú mỗi năm cũng thiếu nước sinh hoạt từ bốn đến năm tháng. Để duy trì nước cho sinh hoạt, hằng ngày anh em trong đơn vị phải cắt cử nhau tìm vào các khe đá lấy nước về dùng... Là dân Hà Nội, Trung úy Nguyễn Hữu Nam đã lên Đồn Lũng Cú làm nhiệm vụ từ năm 2004 đến nay. Từng ấy năm đủ cho anh thực tế và trải nghiệm cuộc sống trên cao nguyên đá Đồng Văn. Anh bảo: Lên trên này rồi mới hiểu được đầy đủ câu "Nước là máu của sự sống" (khẩu hiệu về bảo vệ nguồn tài nguyên nước). Ngay cây rau xanh thôi, có chăm bẵm đến mấy mà không có nước tưới thì cũng mất mùa... Vừa khi đó Kiều Văn San, quê Tam Dương (Vĩnh Phúc), hơn 20 tuổi đời, hơn bốn tháng tuổi quân và được biên chế lên Đồn Lũng Cú từ tháng 1-2010. San bảo: Năm nay em có cái Tết xa nhà đầu tiên, nên trong lòng hồi hộp lắm. Mà ở đây mọi người thường bảo: Về rồi thì ngại lên, khi lên rồi lại không muốn về. Bởi đường xa, dốc cua khiến nhiều người ngồi xe ô-tô nôn cả mật xanh, mật vàng, về đến nơi nằm oặt oẹo cả tuần chưa muốn dậy.
Giữa khó khăn của vùng đất biên cương chất chồng núi đá, tôi cảm nhận được từ những cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Lũng Cú vẫn hồn nhiên, vô tư, trẻ trung và không có những vụ lợi riêng mình. Vì bởi ở đây, nếu ai đó suy tính việc được, mất cá nhân, chắc chắn sẽ bằng một cách nào đó để chuyển ngành, hoặc thậm chí là đào ngũ. Vậy nhưng tất cả họ, những cán bộ, chiến sĩ biên phòng nơi địa đầu Tổ quốc động viên nhau gạt bỏ đi những phút giây yếu lòng, để bám trụ, giữ trọn vẹn từng mỏm đất, đá của Tổ quốc thân yêu.
Chợt đâu đó, một cơn gió lạc loài giữa cao nguyên đá mênh mông khiến đôi mắt tôi cay xè, trong lồng ngực như có vật gì đó trào dâng, làm tôi nghẹn lòng. Các anh, những cán bộ, chiến sĩ đứng canh gác cho sự bình yên nơi mảnh đất thiêng liêng địa đầu Tổ quốc, giữa thời bình vẫn trong tư thế sẵn sàng hy sinh để bảo vệ an ninh biên giới quốc gia. Điều cảm phục là giữa khó khăn của mảnh đất mù mây, đá chồng lên đá, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Lũng Cú đã xây dựng được một trận tuyến từ lòng dân. Trận tuyến ấy phải trải qua rất nhiều thế hệ những người lính biên phòng, và mỗi thế hệ lại như một viên gạch hồng dần xây lên tường thành biên cương vững chãi. Mỗi viên gạch ấy, không gì khác, chính là giọt hồng chắt gạn từ những trái tim của người lính biết hy sinh, biết đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hạnh phúcgia đình. Bởi lẽ ấy, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ biên phòng đã lớp sau, kế lớp trước lên đây, lên với vùng đất và bầu trời nơi đầu nguồn con sông Nho Quế để ba cùng với dân, như việc Bộ đội Biên phòng học tiếng của đồng bào dân tộc thiểu số để sau đó dạy cho đồng bào biết chữ Quốc ngữ. Rồi trên mặt trận sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, cán bộ, chiến sĩ biên phòng lại cầm tay chỉ việc, giúp đồng bào tiếp cận được khoa học, kỹ thuật sản xuất các loại giống cây, giống con mới thay thế cho cây anh túc.
Bàn cách xóa đói, giảm nghèo, Thiếu úy Trần Văn Hợi, nhân viên báo vụ cho rằng: Với vùng quê đồng bào phải gùi từng bụm đất cho vào hốc đá, thả hạt ngô như cao nguyên Đồng Văn, thì việc học cách làm kinh tế còn nhiều nan giải. Nhưng cũng trên vùng đất biên thùy này từ nhiều năm nay, Bộ đội Biên phòng không phải làm "thầy giáo quân hàm xanh", vì đội ngũ giáo viên được tăng cường lên đây đã nhiều hơn, vì thế số người từ độ tuổi 40 trở xuống phần nhiều đã biết nói tiếng phổ thông.
Tôi hiểu, ẩn ý của Thiếu úy Hợi là việc giữ vững từng tấc đất biên cương Tổ quốc, còn có đội ngũ những cán bộ, giáo viên và sự ủng hộ của đồng bào các dân tộc. Cũng từ đất này, đã có những người con trưởng thành và chọn nghề dạy chữ, dạy người như Ly Thị Máy, Vừ Thị Mỷ, Giàng Mí Say... Tuy thế, việc dạy chữ đến nay còn chưa hết khó. Khi vào thăm Trường tiểu học Lũng Cú, thầy Hiệu trưởng Lý Đức Thiện cho biết: Các em nhỏ đi ra từ bản làng phần nhiều chưa biết tiếng phổ thông, do đó việc dạy chữ tại trường còn có hai nhân viên trợ giảng là Giàng Mí Mua và Lý Sính Giàng. Trong trường có bảy cặp đôi là giáo viên. Song được tiếng dạy cùng trường, nhưng có cặp vợ chồng cả tuần mới gặp nhau được một lần, vì các phân trường ở xa nhau. Nhưng anh chị em giáo viên luôn động viên nhau bám trường, bám lớp, và động cơ để mỗi người yên tâm công tác, chính là niềm tự hào mình là người giáo viên dạy chữ cho con em đồng bào các dân tộc dưới chân cột Cờ Lũng Cú.
Vâng! Thưa thầy, ở vùng biên viễn của Lũng Cú, trong trái tim mỗi cán bộ, bộ đội, giáo viên và mọi người dân đều ắp đầy niềm tự hào mình là dân tộc Việt Nam. Được sống, được cống hiến nơi tận thượng cùng cực bắc... Vẫn cái chất hồn nhiên, vô tư của lính biên phòng, Thiếu úy Ly Mí Dình bảo: Chúng tôi, những người gác Cờ trên đỉnh Lũng Cú địa đầu Tổ quốc, cuộc sống có thừa thãi những nắng, gió, lạnh và kham khổ, nhưng chưa bao giờ chúng tôi nản lòng, hay đòi hỏi gì, mà luôn suy nghĩ mình đã làm được gì cho Tổ quốc.
Ly Mí Dình là người con của xã Phố Cáo (Đồng Văn). Từng lời Dình nói chắc nịch như lời thề chém đá, khiến tôi thấy hình ảnh người cán bộ, chiến sĩ biên phòng trên mảnh đất biên cương Tổ quốc trở nên đẹp đẽ hơn. Vì thế lần này lên với Lũng Cú, được bước đủ 286 bậc đá lên chân cột Cờ, đã là niềm vinh hạnh đối với chúng tôi. Rồi từ đây được ngước trông lên ngọn Cờ đỏ tươi có ngôi sao vàng năm cánh tung bay, hãnh diện trong bất cứ thời tiết khắc nghiệt nào, tôi lại thấy lòng mình trĩu nặng sự biết ơn những người gác Cờ trên đỉnh đầu biên cương Tổ quốc. Để trên suốt dọc đường về, từ huyện lỵ Đồng Văn sang huyện Mèo Vạc, qua con đường Hạnh Phúc treo trên đỉnh Mã Pì Lèng, những tên làng Lô Lô Chải, Tả Gia Khâu, Sán Chồ... (Lũng Cú) và Lèng Sảng, Ngải Trồ, Ma Xí... (Ma Lé) cứ ẩn hiện trong tôi. Đó là hình ảnh của những cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Lũng Cú đang bồng súng đứng canh dưới chân Cờ Tổ quốc. Thiêng liêng, hào hùng và cũng lắm gian khổ, vâng-các anh, những cán bộ, chiến sĩ biên phòng đang viết tiếp bản anh hùng ca về Tổ quốc Việt Nam thân yêu.
Bài và ảnh:
PHƯƠNG CƯỜNG
và NGỌC CHUẨN