Anh Đinh Văn Dit, Trưởng ban quản lý rừng cộng đồng của thôn Vi Chơ Ring
Năm 2007, thực hiện dự án "Bảo vệ rừng mưa nhiệt đới" do tổ chức JICA thế giới phối hợp với Nhà nước ta tài trợ, tất cả 32 hộ dân trong thôn Vi Chơ Ring, xã Hiếu đã nhận quản lý, bảo vệ 808ha rừng. Người dân nhận quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) có thời hạn và được hưởng lợi từ rừng. Bắt đầu từ năm thứ hai trở đi, nhân dân được phép khai thác lâm sản với tỷ lệ 5%/năm và khai thác đất dưới tán rừng để trồng các loại cây lâm sản ngắn ngày, như song mây, thảo quả, chăn nuôi gia súc. Dự án này hỗ trợ một phần vốn để chăn nuôi gia súc, gia cầm và một số cây... trồng xen dưới tán rừng. Đến nay, sau gần ba năm thực hiện dự án, 100% diện tích rừng người dân thôn Vi Chơ Ring nhận khoán đều được quản lý tốt, tình trạng khai thác gỗ và xâm hại rừng trái phép của các đối tượng lạ mặt đã được ngăn chặn.
Trong cơn mưa phùn và cái rét buốt mùa đông của huyện Kon Plông, chúng tôi theo chân anh Đinh Văn Dit, Trưởng ban quản lý rừng cộng đồng của thôn Vi Chơ Ring đi thực địa. Anh cho biết: Khi được chọn tham gia dự án cộng đồng QLBVR, bà con rất phấn khởi, đồng tình cao. Chúng tôi đã tổ chức họp thôn và thống nhất thực hiện nghiêm túc các điều khoản trong "Quy ước bảo vệ rừng bền vững" của xã, 100% hộ đều ký cam kết. Chúng tôi thành lập 3 tổ, phân công tuần tra rừng. Đối với những tháng cao điểm, hay khi phát hiện có kẻ lạ xâm hại rừng, chúng tôi cử từng nhóm tuần tra liên tục. Từ khi nhận khoán QLBVR đến nay, cũng đã có nhiều vụ xâm hại rừng trái phép do các đối tượng lạ mặt ở tỉnh Quảng Ngãi sang, nhưng chúng tôi đã kịp phát hiện và báo cho chính quyền địa phương truy quét, xử lý nên rừng không thiệt hại gì nhiều. Còn đối với việc hưởng lợi từ khi thực hiện dự án đến nay, trước mắt bà con chỉ được khai thác một số lâm sản phụ dưới tán rừng và đất trống để trồng trọt, chăn nuôi gia súc và khai thác một ít gỗ (có sự cho phép của chính quyền địa phương) để làm nhà ở. Tuy chưa nhiều, nhưng cũng đã giải quyết được khó khăn trong cuộc sống cho bà con. Hiện nay, dự án này đã đến hạn cho phép khai thác lâm sản theo tỷ lệ 5%/năm, nhưng do còn vướng về mặt thủ tục của các cấp, các ngành nên chúng tôi chưa khai thác được.
Ông Nguyễn Trung Sở, Hạt trưởng hạt Kiểm lâm huyện Kon Plông nhận xét: So sánh giữa hình thức "cộng đồng QLBVR" được hưởng lợi từ việc khai thác rừng theo tỷ lệ 5%/năm với hình thức cá nhân nhận khoán QLBVR được trả công bằng tiền mặt 200 nghìn/ha/năm, chúng tôi thấy hình thức "cộng đồng QLBVR" có hiệu quả cao hơn. Bởi vì: Huy động được cả cộng đồng tham gia nên ý thức của mỗi thành viên trong cộng đồng là rất cao, không có sự so bì thua thiệt, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi thành viên được thực hiện công bằng. Thứ hai, hình thức cộng đồng QLBVR phù hợp với điều kiện, đặc điểm tự nhiên-xã hội của địa phương (diện tích rừng lớn, giao thông đi lại khó khăn, tình hình xâm hại rừng nhiều... nên cần phải có sự liên kết tập thể để giúp đỡ nhau trong quá trình tuần tra, bảo vệ và xử lý vi phạm). Thứ ba, việc giao rừng cho cộng đồng QLBV (không kể rừng phòng hộ, rừng sản xuất) có quy ước, cam kết rõ ràng, từ đó "rừng đã có chủ", có nhiều tai mắt trông coi… nên khi đối tượng lạ vi phạm là bị dân phát hiện sớm và hợp sức truy quét ngay. Từ kinh nghiệm mô hình "cộng đồng QLBVR" ở thôn Vi Chơ Ring, xã Hiếu, thời gian tới, chúng tôi sẽ tham mưu cho chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng xem xét, triển khai nhân rộng mô hình này trên địa bàn toàn huyện để góp phần vào công tác QLBVR ở địa phương có hiệu quả hơn.
HOÀNG HƯNG