Ông bà nội ngoại tôi đều sống tại Hà Nội từ thời Pháp thuộc, cả bố mẹ tôi đều sinh sống lâu năm ở Hà Nội. Tôi chào đời tại nhà hộ sinh A phố Hai Bà Trưng. Từ bé cho đến năm 17 tuổi đi du học, hầu như tôi chẳng đi đâu ra khỏi Hà Nội. Ấy vậy mà cứ mỗi khi được hỏi có phải người Hà Nội không, tôi lại gật đầu với chút băn khoăn: Thế nào thì được gọi là người Hà Nội gốc?
Những năm đầu tiên rời xa Hà Nội, ngoài nỗi nhớ gia đình, họ hàng, bạn bè đến da diết, tôi còn cảm thấy buồn bã, xa lạ, khó sống vì quang cảnh thành phố châu Âu chẳng có gì giống với Hà Nội cả. Tôi nhớ từng góc phố, từng con đường, từng hàng cây. Tôi nhớ phố Hàn Thuyên nhà tôi có cây cơm nguội to cao mà tôi và các bạn thường bứt hạt cho vào súng “phốc” tự tạo bắn nhau, nhớ phố Lò Đúc với hàng cây cao vút đầy tổ cò, mỗi khi đi qua phải đi nhanh vì sợ cò ỉa lên đầu, nhớ phố Lý Thường Kiệt đầy hoa bằng lăng tím xen lẫn hoa phượng đỏ, lũ trẻ thường nhặt mang về làm vòng hoa cài đầu “cô dâu” và nhớ mùa hoa sấu bay trắng mặt đường Trần Hưng Đạo trong tiếng ve kêu khi hè đến, inh cả tai nhưng không hề gây cảm giác khó chịu. Mỗi khi nghe lời bài hát “Em ơi Hà Nội phố. Ta còn em mùi hoàng lan. Ta còn em mùi hoa sữa...”, tôi lại thấy cay cay nơi sống mũi.
Và tất nhiên do có tâm hồn ăn uống, những lúc đói lòng, đang đứng chờ tại bến metro hun hút gió hoặc xe buýt vào những ngày mưa ở Budapest, tôi lại nhớ đến vị ngọt đậm gừng hành nướng của phở Thìn Bờ Hồ, hương vị cà cuống của tô bún thang Lương Văn Can, bún ốc Phù Đổng Thiên Vương... Cái cảm giác “sống một nơi, nghĩ một nẻo” như vậy theo đuổi tôi khá lâu, có lẽ phải gần chục năm trời mới nguôi ngoai đi được.
Những năm vừa qua, Hà Nội có nhiều bước tiến mới, cảnh vật thay đổi rất nhiều: Nhà cửa khang trang, đường phố mở rộng, xe cộ đi lại như mắc cửi, người người chen nhau chật cứng như nêm. Hầu như cứ hai năm một lần tôi lại về Việt Nam thăm gia đình nên cũng quen dần với những thay đổi đó chứ không bị sốc như những người hàng chục năm mới về thăm quê.
Họ thường nhìn nhận Hà Nội qua góc nhìn của khách du lịch, so sánh với thủ đô các nước văn minh trên thế giới rồi chỉ trích những việc như giao thông bừa bãi, taxi tính tiền không sòng phẳng, mua mà không biết mặc cả sẽ bị hớ... Tôi công nhận họ có đúng phần nào nhưng thường thấy buồn cười trước những phán xét đó bởi xét cho cùng, trên thế giới này ở đâu mà chẳng có những chuyện tương tự, nào có riêng gì Hà Nội.
Mỗi năm có đến gần cả triệu người mới đến sinh sống hoặc làm việc tại Hà Nội, nhiều khu nhà mới, đường phố mới, hàng quán mới, tất cả đều phải thích nghi với môi trường mới. Chẳng ai còn nhớ tới ông bán phở Thìn Bờ Hồ đầu đội mũ phớt, chào hỏi tất cả khách đến ăn và nhớ rõ người nào thích loại phở gì. Phở 24 giờ là thương hiệu đáng tin cậy, lại thêm phở Vuông, có máy lạnh, phở Bắc chính cống kết hợp với giá và rau húng theo kiểu miền Nam. Phố Lò Đúc nay chật cứng người vào giờ tan tầm mà chẳng ai sợ cò ỉa vào đầu. Đã từ lâu làm gì còn có chim cò nào làm tổ được trong thành phố nữa. Mùa hè tới tất nhiên tiếng còi xe phải to hơn tiếng ve kêu và rồi nghe mãi cũng thành quen... Hà Nội của tôi bây giờ là thế!