4 giờ sáng, tôi ra cửa sông Hàm Luông cùng đi biển với ngư dân xóm đáy thị trấn Mỹ Long (Cầu Ngang, Trà Vinh). Sau khi hớp xong mấy ngụm trà đặc sánh, một nồi cơm bốc khói được dọn lên phía sau mui ghe, tất cả cùng lót dạ với món khô nướng rồi nổ máy tiến thẳng ra biển.
Đi vớt lưới
Chiếc ghe trên 30 mã lực chở tôi cùng sáu ngư dân nhảy từng đợt sóng cồn cao ngất. Nhóm bạn đáy nhìn trời, nhìn nước phán ngay một câu: “Nay “thổi” nhiều hơn hôm qua, chắc không đóng đáy được”. Bỏ xa bờ chừng chục km, sóng vẫn vỗ oàm oạp vào mạn, ghe chồm lên sụp xuống ngả nghiêng, nước tràn vào khoang. Cảnh - anh bạn cầm lái ghe đòi tháo lui về đất liền, năm thành viên khác quyết tâm phải ra tới hàng đáy để lấy lưới về.
Nhưng, sóng lớn quá, Sơn nói: “Neo tạm đó, chừng ghe quay về sẽ kéo trở vô bờ, chứ sóng to vầy chở nó theo nguy hiểm quá!”. Cuối cùng chúng tôi cũng ra được đến hàng đáy giữa biển mênh mông. Mặc cho chiếc ghe lắc lư chao đảo, mọi người hối hả cuốn lưới thả xuống khoang để kịp né sóng, vào bờ trước khi nước lớn.
Căn chòi và hàng đáy chơi vơi giữa biển là nơi ngư dân trú ngụ làm việc suốt con nước (8-10 ngày). Ảnh: T.PHÚC
Đa số ngư dân làm nghề đáy đều gầy, nước da của họ sạm đen nắng gió. Trông mọi người khá mệt mỏi khi phải hành nghề ngay giữa mùa giông bão. Thế nhưng ai cũng tươi cười cho biết: “Khâu lặn để cắm giềng lưới dưới nước, cảnh ngủ đêm trên chòi bị sóng đánh rơi xuống biển, nhất là khi hàng đáy bị sập, lưới bị bùn cát vùi phải lặn trục vớt lên... mới cam go, cực nhọc hơn nhiều”.
Cơn bão số 11 vừa qua, ở cửa Hàm Luông có tới bảy hàng đáy của ngư dân Mỹ Long bị sập. Nhiều người bị sóng đánh trôi trên biển suốt cả ngày lẫn đêm mới được cứu thoát. Hơn một tháng trôi qua, do biển thường xuyên nổi sóng nên nhiều miệng đáy (khẩu đáy) rách nát vẫn còn bỏ nằm vùi trong bùn, chưa thể trục vớt mang về dặm vá.
Hai chủ đáy Nguyễn Thái Nguyên và Hồ Văn Đen, từ Trà Vinh sang Bến Tre hành nghề đóng đáy ngoài cửa Hàm Luông, ước tính mỗi người bị thiệt hại 10-24 khẩu đáy, mất vốn hàng trăm triệu đồng. Trước mắt họ lo sửa lại chiếc ghe, còn lưới và trụ đáy xiêu vẹo gãy đổ phải chờ ngày biển lặng sóng mới thuê người vớt và sửa chữa lại. “Không hy vọng những khẩu đáy mang lên bờ còn lành lặn được 60%” - anh Đen ngậm ngùi nói.
Xóm đáy buồn
Tôi trở lại xóm đáy xã An Thủy (Ba Tri, Bến Tre) sau hơn 10 năm. Ghé thăm gia đình ông Thái Văn Trúng mới hay lão ngư kỳ cựu ấy đã bỏ nghề vì tai biến. Ông ngồi đó chỉ cười và nhìn khách. Con trai của ông cũng chuyển qua làm nghề cào ven bờ do sức khỏe kém, không thể tiếp tục lặn xuống biển để làm nghề đáy, cái nghề truyền thống nhiều đời nay của gia đình.
Cuốn lưới về đất liền vì biển động, không thể đóng đáy. Ảnh: T.PHÚC
Theo các ngư dân, biển bây giờ thất bát quá! Đây cũng là lý do để người dân xóm đáy Đèn Đỏ, xã Tân Thành (Gò Công Đông, Tiền Giang) chuyển từ nghề đáy sáo sang đóng đáy chạy. Gọi đáy chạy có nghĩa là không đóng đáy cố định một địa điểm như đáy sáo, đáy sông cầu. Ngư dân hành nghề đáy chạy có thể chuyển vùng đánh bắt khắp các cửa sông từ Bến Tre, Gò Công, Cần Giờ đến Vũng Tàu. Tùy theo mùa, đoán luồng cá nơi đâu có nhiều, các ngư dân làm nghề đáy chạy rủ nhau đến đó thả phao đánh bắt.
Sản phẩm ngư dân Gò Công mang về chủ yếu là ruốc và cá làm phân. Trong khi đó với mắt lưới nhỏ, ngư dân vùng Ba Tri cũng khai thác được sản phẩm thủy sản tương tự. Ngoài ruốc, cá vụn còn có cá khoai, cá lưỡi trâu, tôm thẻ, tôm sắc, mực, cá đuối... nhưng cá tôm cứ ít dần, nguồn lợi thủy sản không thể tái tạo kịp so với lực lượng khai thác ngày một đông. Nhiều con nước dài 8-10 ngày, tiền thu được vừa đủ trả công thuê mướn bạn. Riêng các chủ đáy vẫn cứ phải tiếp tục bỏ vốn ra đầu tư và hy vọng sẽ gỡ gạc vào những con nước sau.
Địa bàn xã An Thủy gần đây thu hút cư dân xóm đáy Trà Vinh sang thuê chỗ trọ để làm nghề đáy sông đông hơn. Đơn giản vì luồng lạch bên cửa sông Ba Lai, Hàm Luông nước sâu, dòng chảy thông, cá tôm dồi dào hơn cửa sông Cổ Chiên. Ngư dân Mỹ Long sử dụng mắt lưới to chủ yếu bắt ruốc lớn và cá tôm các loại nên với những khẩu đáy thiết kế gọn nhẹ hơn, cùng lúc một người đi bạn thuê có thể đảm nhận việc xuống lưới và thu hoạch tới sáu khẩu đáy.
Ngược lại, ngư dân Ba Tri mỗi người chỉ có thể giữ hai khẩu đáy. Với mô hình hợp tác, từng nhóm tám người góp vốn lập ra một hàng đáy 16 khẩu và sắm chiếc ghe dùng làm tài sản chung để ra biển hành nghề. UBND xã An Thủy cho biết thu nhập nghề này bấp bênh nên chỉ còn khoảng 40 hộ gia đình gắn cuộc sống với năm hàng đáy. Còn lại mấy chục hàng đáy khác là của ngư dân Trà Vinh xâm canh.
Xa xôi giấc mơ lên bờ
Gia đình anh Ngô Hữu Nghĩa và anh Nguyễn Văn Hùng ở xóm đáy Đèn Đỏ, xã Tân Thành có đến bốn thế hệ hành nghề đáy sáo. Họ gom góp vốn đầu tư vào một hàng đáy sáo, mỗi người làm chủ 16-24 khẩu đáy. Loại đáy này dùng trụ nhỏ và kéo lưới lên xuống mỗi ngày, không sử dụng trụ lớn và thả lưới cố định suốt con nước như đáy sông miệt Bến Tre, Trà Vinh.
Thu hoạch cá từ một khẩu đáy. Ảnh: ĐOÀN ĐẠT
Theo anh Hùng, con nước trúng, 24 khẩu đáy của anh thu được 5-7 triệu đồng/ngày. Nhiều hôm thất chỉ 500-600 ngàn đồng. Bỏ chi phí trả công bạn, mua nhiên liệu chạy ghe..., sau một con nước chỉ còn lại vừa đủ khoản sống đắp đổi qua ngày. Hùng chỉ dãy nhà lụp xụp nói: “Cả đời làm nghề biển, nhiều hộ ngư dân không cất nổi một căn nhà tường khang trang. Đám trẻ con ở xóm đáy Đèn Đỏ chữ nghĩa cũng ít. Chưa học xong cấp hai chúng đã bỏ học đi biển”.
Ông Trần Nguyên Phấn, Chủ tịch UBND xã An Thủy, từng có thời gian gắn bó với nghề đáy sông cầu, nhận xét: “Nguồn lợi thủy sản đang cạn kiệt, ngư dân bám biển làm nghề đáy thu nhập không ổn định và luôn phải đối mặt với hiểm nguy... Nhưng vì nghề truyền thống có từ lâu đời, gắn bó như máu thịt với đời sống dân cư vùng cửa sông nên rất khó động viên bà con chuyển đổi nghề. Vả lại nếu lên bờ, họ cũng không biết tìm đâu ra một nghề khác để ổn định cuộc sống cho cả gia đình”.
TÂM PHÚC
Bài 2: Sống trên đầu bọt nước
Đang ngủ cũng có thể bị văng xuống biển, sinh hoạt trong những căn lều neo trên đầu cọc đáy. Đối diện với những cơn cuồng nộ của trời đất là chuyện thường ngày của những người đóng đáy hàng khơi.


