Hầu như trong góc lòng sâu thẳm của nhiều người chúng ta, ai cũng có một miền quê để nhớ. Và mỗi khi chớm hạ, mưa thu, nghe khắc khoải, đau đáu về cội rễ của mình. Cố hương có thể là quê ngoại xa xăm, với những mái nhà nhỏ nằm cạnh hàng cau rợp bóng mát. Rồi khi chiều tàn, quê ngoại như ẩn hiện trong lãng đãng sương chiều. Quê hương, đó cũng có thể là quê nội có con sông chảy lững lờ ôm cái làng nhỏ hiền hòa, đìu hiu dưới những mái lá nằm dưới rặng dừa soi bóng nước... Quê hương của chúng ta có thể khác nhau về đường nét, cảnh vật, nhưng có một thứ giống nhau, đó là những mái nhà hai mái truyền thống hình chữ V ngược, mà theo GS Trần Quốc Vượng thì mái nhà đó có từ thời những người Việt đầu tiên xuống đồng bằng, tổ tiên dùng thuyền, và khi đêm xuống, dựng mấy cây que, úp con thuyền là thành mái nhà nhỏ tránh gió mưa. Những mái nhà đó chính là nét chấm phá cơ bản tạo ra cái dáng quê hiền hòa thơ mộng, đôi khi như hiu hắt buồn, của làng quê miền tây sông Hậu của tôi. Ngôi nhà đi vào thơ ca và vào tâm thức của mỗi chúng ta. Nó tạo ra một nét văn hóa riêng trong văn hóa ở của vùng đất này.
30 năm trước, tôi từ giã làng quê heo hút của mình. 30 năm sống đời kẻ chợ, có những đêm mưa tôi giật mình thổn thức, nghe trong tiềm thức tiếng mưa thu rắc nhẹ trên mái lá nhà xưa. Trong những đợt gió bấc se lạnh khi cận Tết, tôi lại nghe âm thanh ngọn gió xuân kéo về làm xào xạc mái lá ở hai đầu song nhà... Đó có phải là tiếng quê, là hồn của đất đang hòa nhập với tiếng lòng của những đứa con xa xứ?! Thế là muốn rũ bỏ tất cả mà về lại nhà xưa. Lúc đó, tôi nhớ căn nhà lá đơn sơ mà ba tôi một đời mơ ước đổi thay thành căn nhà ba căn kê tán, vậy mà không sao làm được. Ngày xưa, vì chiến tranh loạn lạc, vì nghèo đói nên việc xây được một căn nhà là cả một vấn đề. Hẳn là vì thế, cha ông mới có câu: "Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà - Cả ba việc ấy đều là khó thay".
Làm nhà là một trong ba việc lớn của một kiếp đời nông dân và xưa kia, như ở mọi miền đất khác, đa số nông dân Nam Bộ khi làm nhà đều gặp rất nhiều khó khăn. Đất đai ngày xưa chủ yếu là của địa chủ, tá điền chỉ làm thuê và sống trên mảnh đất ấy. Chủ ruộng không cho trồng cây lâu năm. Khi chết, người thân phải mang trầu cau đến lạy xin để có đất mai táng, thì lấy đâu ra đất làm nhà. Cho nên, ngôi nhà của nông dân đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hầu hết là tạm bợ. Mới có cách gọi là "nhà đá, nhà đạp", bởi che chòi, dựng lều trên bờ kênh để trú mưa nắng, chỉ cần co chân đạp một cái là đổ kềnh.
Còn những người khá giả như địa chủ thì làm được một căn nhà lớn cũng không phải dễ. ĐBSCL vốn không có gỗ quý để làm nhà, họ phải thuê dân đinh đi ghe lườn qua tận Nam Vang (Cam-pu-chia) để mua loại gỗ căm xe đem về, một chuyến đi mất mấy tháng trời. Sau đó đón nhóm thợ ở Huế với bầu đoàn thê tử vào làm đến mấy năm trời, xong nhà rồi mới đi. Vì vậy, ở ĐBSCL từ đầu thế kỷ 20 trở về trước, rất ít có nhà đẹp, nhà kiên cố, chủ yếu là nhà lá, cây rừng. Ở Nam Bộ, câu thành ngữ "cây nhà lá vườn" có thể hiểu rằng: lá lợp nhà là lá dừa nước mọc đầy bến sông, còn cây để làm khung nhà thì mọc ở cụm rừng sau với bần, mấm, trâm bầu, thậm chí là so đũa. Sau này, nhiều người khai thác rừng tràm, rừng đước nên vật liệu xây dựng được bổ sung. Nhưng loại "cây nhà" rất mau hư, chỉ qua vài mùa mưa là bù xè (loại sâu mọt, gặm nhấm) phá hại, nên nông dân Nam Bộ còn có sáng kiến ngâm cây dưới nước để tăng độ bền.
Từ kiểu làm "cây nhà lá vườn" tạm bợ này đã hình thành một kỹ năng làm nhà, một tập quán sinh hoạt rất đẹp của nông dân Nam Bộ. Ở làng tôi, ngày xưa, cứ bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 4 âm lịch (nghĩa là khi trời chuẩn bị sa mưa) là cả làng chộn rộn làm nhà, sửa nhà. Gia chủ đốn lá phơi khô, vớt cây dưới đìa lên sẵn và đi xem ngày lành tháng tốt để định ngày dựng nhà. Cứ thế, cả xóm đến giúp, chủ nhà chỉ lo ba bữa cơm và có một chút "cay cay" vào buổi chiều, khi kết thúc công việc. Thậm chí, bà con họ hàng còn đến trước mấy buổi phụ tiếp che lều, bào cây. Ngày xưa, làm nhà "cột cặm lá rừng" bà con lối xóm đến giúp chí tình và rất thành thạo. Bà con làm tất cả những công việc từ dựng sườn, lợp nhà, tề lá, làm buồng... ở quê tôi xưa, 100% thanh niên trong làng đều biết làm nhà, vì đó là công việc thường xuyên. Nếu 7, 8 tuổi chưa biết lợp nhà thì đi giúp lối xóm đưa lá để học cách lợp nhà. Một thanh niên lợp được ly lá đẹp thì được người của làng đánh giá rất cao về sự khéo léo. Mấy bà già lấy đó làm tiêu chuẩn để kén rể. Mấy cô gái nhìn một ly lá đẹp là liếc mắt với người lợp. Thế nên, trai gái trong làng ai cũng học làm nhà, học để dựng nghiệp sau này, học để chứng minh sự tài hoa với xóm làng...
Các nhà nghiên cứu cho rằng, ngôi nhà ba gian, hai chái, mà tiêu biểu là nhà rường ở mạn ngoài là ngôi nhà thuần Việt. Nhà được cất bằng gỗ quý như mun, mít rừng... Thân cột, đầu kèo, đòn tay... được chạm khắc cầu kỳ hình long, lân, quy, phụng và các loại cây như mai, cúc, trúc, tùng. Mái nhà gần giống với mái đình, chùa, miếu mạo, cung đình. So với ngôi nhà thuần Việt thì nhà hai mái ở ĐBSCL có khác biệt. Tuy nhiên, sự khác biệt ấy chủ yếu là do sự biến thể theo xu hướng giản đơn trong điều kiện thiếu vật liệu xây dựng và hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Thế nhưng, ngôi nhà vẫn giữ được nét cơ bản của kiến trúc truyền thống. ĐBSCL có bốn loại nhà: nhà ba căn, hai chái; nhà ba căn, một chái; nhà ba căn và nằm liền kề một dãy nhà chữ "đinh"; nhà ba căn trước, ba căn sau. Đồng thời, còn một loại nhà một hoặc hai, ba căn nằm liền kề là một hoặc hai chái. Như vậy, chúng ta thấy nhà ba căn gần giống với nhà rường ba gian, hai chái. Và hai chái ấy chính là hai mái cách thể của ngôi nhà thuần Việt... Tóm lại, xuất phát điểm của ngôi nhà hai mái đặc trưng ở ĐBSCL cũng tuân thủ những nguyên tắc của lối kiến trúc truyền thống. Thế nhưng, sự cách thể của nó đã tạo ra một loại nhà có dáng dấp riêng, in đậm dấu ấn của vùng đất mới. Có thể nói, đó chính là văn hóa kiến trúc riêng biệt của ĐBSCL.
Hồi đầu, nhìn dáng nhà ở ĐBSCL có lẽ lạ mắt. Thế nhưng, nhìn mãi rồi quen và thấy rất hợp lý. Một ngôi nhà lá hai mái nằm trên bờ con sông, đầu hồi trái là hàng dừa hoặc hàng cau tỏa bóng, đầu hồi phải là đống rơm có con trâu nằm nhai rơm khô và có chú gà trống đứng gáy vang chào buổi sáng. Bắc qua con sông trước mặt nhà là một chiếc cầu tre lắt lẻo. Phía sau nhà là hàng lu nước và sàn lãn để ngày ngày các bà mẹ rửa chén, làm cá, nấu cơm. Xa hơn một chút là cái ao có chiếc cầu ao thơ mộng, ở đó mỗi ngày em gái ta giặt áo và ngơ ngác kiếm tìm mùi hương của hoa sen, hoa súng. Và xa thêm nữa là cánh đồng mênh mông chạy mút đến chân trời có cánh cò bay lả, để ta hát nghêu ngao câu ca dao về mẹ ta như thân cò lặn lội đồng sâu... Tất cả là một bức tranh thủy mặc, là một thực thể máu thịt hài hòa giữa căn nhà hai mái và đất phương Nam chằng chịt sông ngòi, bát ngát ruộng đồng và cây trái xum xuê. Với khung cảnh đó, nếu mất đi căn nhà hai mái thì làng quê như sẽ không còn cái hồn đời sống của làng quê nữa.
Căn nhà hai mái truyền thống của ĐBSCL góp phần sản sinh ra đời sống văn hóa, thể hiện tính cách của cư dân địa phương. Nhà rường có chiều cao phổ biến là 3,6 m, thế nhưng, nhà hai mái ở Nam Bộ thường có chiều cao 5,4 m, thậm chí có nhà cao đến 6,3 m. Và làm cho ngôi nhà thoáng mát hơn. Nhà hai mái Nam Bộ rất rộng, dễ bài trí. Thường thì một ngôi nhà ba căn ở ĐBSCL, tính từ tâm nhà ra sau, được bố trí hai phòng ngủ ở hai căn hai bên, còn căn giữa là nơi sinh hoạt chung của gia đình, sau vách bàn thờ. Còn một nửa của ba căn phía trước thì căn giữa đặt tủ thờ, một bộ bàn ghế tiếp khách, hai căn hai bên người ta đặt hai bộ ngựa gõ dày cả tấc. Các nhà nghiên cứu tính toán: Không gian tiếp khách của đồng bằng Bắc Bộ chỉ chiếm 15% căn nhà, còn của nông dân Nam Bộ chiếm đến 35%, thậm chí có nhà đến 45%. Chính ngôi nhà ba căn, hai mái của ĐBSCL đã góp phần hình thành và thể hiện được tính phóng khoáng, hiếu khách đặc biệt của người Nam Bộ. Ngôi nhà ba căn sau nhà lớn hoặc hai chái bếp hai bên hông, hay dãy nhà chữ "đinh" liền kề được bố trí đặt một bồ lúa to, phòng ngủ con gái, bàn ăn cơm và bếp nấu ăn của gia đình, nơi để vật dụng nhà nông. Đặc biệt sự cai quản, phân định ngôi thứ trong căn nhà xưa của nông dân Nam Bộ rất rạch ròi, trở thành nếp của gia đình. Người đàn ông chủ hộ thì ở ngôi nhà lớn phía trước, người vợ thì ở phía sau và con gái thì ở chái bếp. Điều này thấy rất rõ: Khi có khách của gia đình đến chơi thì uống nước, ăn cơm ở nhà trước; còn khách riêng của đàn bà thì ra nhà sau; khách của con gái thì dẫn ra chái bếp; còn nếu không có khách thì cả nhà quây quần buổi cơm chiều ở nhà sau hoặc chái bếp.
Ở quê tôi, do cuộc sống đã và đang ngày càng được cải thiện cho nên có đến 60 - 70% nhà ở của nông dân được xây dựng cơ bản và bán cơ bản. Tuy nhiên, gần như 100% loại nhà mới này là nhà một mái. Đó là loại nhà "biến tấu" từ ngôi nhà một mái tạm bợ, dã chiến mà Mỹ xây dựng ở miền nam trước năm 1975. Đó là một thứ "văn hóa kiến trúc ngoại lai". Loại nhà này có thể phù hợp cảnh quan đô thị, còn nếu đặt nó ở nông thôn thì trở nên kệch cỡm, thừa thãi như một cái tay, một cái chân giả. Nó làm cho cảnh quan nông thôn không ra nông thôn, thành thị không ra thành thị. Nó dần dà làm mờ đi nét văn hóa đặc trưng của kiến trúc nhà ở ĐBSCL, làm vơi mỏng dần cái hồn quê duyên dáng, nên thơ mà ta đau đáu một đời.
Bản sắc văn hóa của một địa phương góp phần hình thành bản sắc văn hóa của vùng, miền, rồi từ sự kết thành của văn hóa vùng miền mà làm nên bản sắc văn hóa dân tộc. Văn hóa dân tộc là nền tảng tinh thần, là cội nguồn sức mạnh của dân tộc, nó giúp ta vượt qua bao phong ba bão táp và có đủ bản lĩnh để đi tới tương lai. Thế nên, vào thời đại ngày nay, chúng ta mới luôn luôn xem trọng và nhấn mạnh việc bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương, văn hóa dân tộc. Chúng ta phải làm gì đây trước sự mai một của truyền thống văn hóa kiến trúc ở nông thôn Nam Bộ?