Nâng cao chất lượng tuyên truyền về công tác DS- KHHGĐ

ĐCSVN - 22/12/2010 00:16

Nang cao chat luong tuyen truyen ve cong tac DS- KHHGD

Công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, đầu tư và thực hiện như một chiến lược. 10 năm qua, từ thực tiễn công tác DS-KHHGĐ, chúng ta đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm, trong đó, nâng cao chất lượng tuyên truyền là một bài học quý bởi nó vừa tiết kiệm chi phí, vừa mang lại hiệu quả cao.

Ngay từ khi bắt đầu triển khai Chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình 2001-2020, công tác truyền thông chuyển đổi hành vi về DS-KHHGĐ được chú trọng và được coi là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nhanh chóng nâng cao nhận thức của người dân trong cộng đồng. Chúng ta đã thực hiện chiến dịch tăng cường tuyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ sức khỏe sinh sản/KHHGĐ nhằm kiềm chế mức tăng sinh, đồng thời là một biện pháp tích cực để cải thiện sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ trẻ em. Chiến dịch này đã được ưu tiên triển khai ở các vùng khó khăn, vùng đông dân số, vùng có mức sinh cao dưới các hình thức như: các chi cục DS-KHHGĐ phối hợp truyền thông với Hội Phụ nữ; Hội Nông dân xây dựng các câu lạc bộ; Đoàn Thanh niên và Sở Giáo dục phát động phong trào “Thanh niên dân số, sức khỏe, môi trường”, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về SKSS vị thành niên, thanh niên, HIV/AIDS... ; Gặp mặt các già làng, trưởng bản - những người có uy tín trong cộng đồng cư dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa - tuyên truyền cho con cháu thực hiện tốt chính sách Dân số - KHHGĐ... Bên cạnh đó, các đài phát thanh - truyền hình, báo tỉnh, hội nhà báo, trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh đã xây dựng các chuyên mục, chuyên trang bằng tiếng dân tộc để tuyên truyền cho bà con vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số về chăm sóc SKSS/KHHGĐ, tổ chức các cuộc thi và xây dựng các mô hình truyền thông tại địa bàn dân cư, góp phần nâng cao nhận thức trong cộng đồng về chương trình DS - KHHGĐ.

Nhiều tỉnh, thành thông qua đội ngũ chuyên trách và cộng tác viên DS-KHHGĐ thường xuyên tổ chức các hoạt động truyền thông tại địa bàn dân cư như: thăm hộ gia đình, tư vấn trực tiếp, tư vấn nhóm nhỏ, nói chuyện chuyên đề, cấp phát các sản phẩm truyền thông, chiếu video… ; triển khai mô hình truyền thông đặc thù với hình thức tổ chức câu lạc bộ “Gia đình hạnh phúc”, “Thanh niên với sức khỏe sinh sản”, triển khai chiến dịch, tuyên truyền vận động DS-KHHGĐ...

Chúng ta đã đa dạng hóa các sản phẩm truyền thông cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể; đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, vận động về DS - KHHGĐ như truyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp của đội ngũ cán bộ tuyên truyền viên, đội ngũ cán bộ chuyên trách dân số, cán bộ y tế và cộng tác viên dân số. Nhưng trên thực tế, hiện nay, việc truyền thông vẫn chưa đạt hiệu quả mong muốn, một trong những nguyên nhân là do các sản phẩm truyền thông chưa đề cập đầy đủ đến đặc trưng văn hóa các dân tộc, vùng miền, chưa có sự chuyên biện phù hợp với nét văn hóa, tập quán của nhiều dân tộc, chưa có sự khác biệt rõ rệt về nội dung tài liệu và hình thức truyền thông giữa các tỉnh đồng bằng nơi có đông người Kinh sinh sống và các tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Hầu như tất cả các tỉnh đều tuân thủ chung một mô hình truyền thông, mà chưa có những chuyển đổi cho phù hợp với điều kiện văn hóa xã hội riêng của từng tỉnh từng dân tộc. Nhiều sản phẩm truyền thông, như tờ rơi, áp phích, băng rôn, tranh lật, tranh gấp… được sản xuất từ trung ương và chuyển xuống tuyến dưới, nhưng chất lượng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Nội dung thông điệp, ngôn ngữ nhiều khi cũng chưa phù hợp với văn hóa địa phương và đặc điểm các dân tộc. Trong khi đó năng lực chuyên môn và nguồn lực của tuyến dưới không đủ để có thể điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù của địa phương.

Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền vận động thực hiện DS-KHHGĐ chủ yếu chỉ tập trung ở những nơi thuận lợi về giao thông, có đầy đủ phương tiện thông tin, còn những hộ dân sống ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn thì ít được tuyên truyền vận động. Nên hệ quả của nó là tỷ lệ sinh ở những vùng này còn rất cao, gây nên tình trạng mất cân bằng về kinh tế, văn hóa ngày càng lớn giữa càng vùng trên địa bàn tỉnh. Một nguyên nhân khiếu hiệu quả tuyên truyền chưa được như mong muốn là do nguồn kinh phí đầu tư của Trung ương và địa phương dành cho công tác truyền thông còn thấp, trong khi đó, ta lại chưa huy động được sự tham gia của cả cộng động, việc xã hội hóa được công tác DS-KHHGĐ còn kém.

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) đã ban hành Nghị quyết về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Nghị quyết này đưa ra 6 giải pháp thực hiện công tác này, trong đó có giải pháp chú trọng sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình. Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình phải là một nội dung trọng tâm trong chương trình hoạt động cụ thể của các cấp ủy đảng, các cơ quan nhà nước, đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, là trách nhiệm của mỗi gia đình. Không một tổ chức và cá nhân nào đứng ngoài cuộc vận động này. Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt ở các cấp trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo công tác này, huy động toàn xã hội tham gia, quyết tâm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Một giải pháp nữa mà nghị quyết đưa ra là tăng cường công tác thông tin về dân số, tuyên truyền rộng rãi các chủ trương và biện pháp kế hoạch hóa gia đình, thực hiện giáo dục dân số với nội dung thích hợp, hình thức đa dạng, có sự tham gia của toàn xã hội, mở rộng đến các vùng, các đối tượng, nhất là vùng nông thôn và đối với lớp trẻ, nhằm làm cho mọi người, trước hết là lớp trẻ, chuyển biến sâu sắc nhận thức, hiểu rõ sự cần thiết và lợi ích của kế hoạch hóa gia đình, chấp nhận gia đình ít con.

Như vậy, truyền thông cần sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương từ tỉnh đến cơ sở đối với công tác DS - KHHGĐ, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp lãnh đạo sẽ là một trong những giải pháp thúc đẩy công tác DS - KHHGĐ để đạt được kết quả cao nhất. Bên cạnh đó, cũng cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể, các cấp lãnh đạo, nổi bật trong đó là sự phối hợp nhịp nhàng của các hai lực lượng, đó là cán bộ chuyên trách dân số, các ban ngành đoàn thể và cán bộ y tế cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản; đội ngũ tuyên truyền viên, cộng tác viên dân số.

Cần đa dạng hóa các sản phẩm truyền thông cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể và huy động được đông đảo các lực lượng xã hội tham gia tuyên truyền vận động về DS-KHHGĐ dưới nhiều hình thức; đổi mới cách tiếp cận, nội dung, thông điệp, hình thức truyền thông phù hợp với văn hóa, phong tục tập quán, đặc điểm sống của các dân tộc, đặc biệt là dân tộc thiểu số. Xây dựng các thông điệp, sản xuất các sản phẩm truyền thông đơn giản, dễ hiểu, dễ làm theo và phù hợp với đặc điểm về phong tục tập quán, văn hóa, ngôn ngữ,... của các vùng, miền, dân tộc. Lựa chọn các kênh truyền thông đại chúng thích hợp, tăng cường các loại hình truyền thông trực tiếp bao gồm cả tư vấn để hướng dẫn các kỹ năng thực hiện hành vi có lợi phù hợp với đặc điểm văn hóa các dân tộc.

Cuối cùng, trong công tác truyền thông, chúng ta cần quan tâm đến nguồn tin phản hồi và coi đây là một thước đo thiết thực để đánh giá sự thành công của công tác này.