Năm 2009, các NHTM Việt Nam đã tích cực triển khai thực hiện gói hỗ trợ lãi suất 4% để kích cầu của Chính phủ. Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất được duy trì ở mức thấp (trong tháng 2, NHNN đã giảm lãi suất cơ bản xuống 7% và duy trì cho tới tháng 11). Cùng với các gói hỗ trợ lãi suất, mặt bằng lãi suất được duy trì ở mức thấp trong phần lớn năm 2009 đã có tác dụng kích cầu rõ rệt, nhu cầu vay vốn của của các doanh nghiệp, hộ sản xuất tăng mạnh, qua đó giúp các NHTM mở rộng hoạt động tín dụng.
Hết năm 2009, tăng trưởng tín dụng đã đạt 37,73%, vượt xa tăng trưởng huy động (26,98%). Thực tế này đã dẫn đến tình trạng khó khăn về thanh khoản của hệ thống NHTM trong nửa cuối năm.
Sang năm 2010, mục tiêu chính của Chính phủ sẽ là ổn định kinh tế, kiềm chế lạm phát, đảm bảo tăng trưởng bền vững. Do đó, việc từng bước giảm nới lỏng tiền tệ sẽ là tất yếu. Theo kế hoạch, tăng trưởng tín dụng được khống chế ở mức 25%. Trong khi đó, hoạt động huy động vốn được dự báo vẫn gặp nhiều khó khăn, ít nhất trong quý 1/2010 khi trần LS huy động bị khống chế ở mức dưới 10,5%/năm. Ngay cả trong dài hạn, khi LSCB được NHNN điều chỉnh tăng, mặt bằng LS huy động cao hơn thì cũng không dễ cho các ngân hàng huy động vốn khi đầu tư chứng khoán và đầu tư bất động sản sẽ là những kênh đầu tư cạnh tranh khốc liệt khi TTCK và thị trường BĐS hồi phục. Khi huy động vốn khó khăn, không đáp ứng đủ nhu cầu cho vay, vốn cho vay đầu ra cũng buộc phải co hẹp lại.
Mặc dù tình hình năm 2010 sẽ được cải thiện so với năm 2009, những khó khăn vẫn hiện hữu trước mắt. Do vậy, CTCP Chứng khoán Dầu Khí (PSI) cho rằng hoạt động kinh doanh của hầu hết các NHTM được dự báo vẫn sẽ tăng trưởng trong năm 2010 nhưng lợi nhuận sẽ không có nhiều đột biến, thậm chí một số NHTM phụ thuộc quá mức vào hoạt động tín dụng sẽ gặp nhiều khó khăn. Mục tiêu phát triển thận trọng, ổn định và bền vững lên sẽ được các ngân hàng đặt lên hàng đầu.
Trong năm 2010, các NHTM cổ phần, nhất là các ngân hàng nhỏ, sẽ phải gấp rút thực hiện tăng vốn điều lệ trong năm 2010 để đáp ứng lộ trình tăng vốn theo quy định tại Nghị định 141/2006/NĐ-CP (đến cuối năm 2010 vốn điều lệ của các NHTM cổ phần phải đạt 3.000 tỷ đồng). Trong bối cảnh cạnh tranh trong lĩnh vưc ngân hàng ngày một khốc liệt, việc tăng vốn điều lệ sẽ giúp các NHTM cổ phần tăng cường sức mạnh tài chính, tuy nhiên việc tăng vốn không xuất phát từ nhu cầu nội tại rất có thể sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh.
Trong năm 2009, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài đầu tiên đã nhận giấy phép, thành lập và mở rộng hoạt động, gồm HSBC, Standard Chartered Bank, ANZ, Shinhan Bank và Hong Leong Bank. Sau khi thành lập ngân hàng con, cả HSBC và ANZ đã nhanh chóng khai trương nhiều điểm giao dịch mới.
Đây là lực lượng sẽ tạo nên tính cạnh tranh mạnh trong ngành ngân hàng trong những năm tới và điều này đòi hỏi các NHTM trong nước phải nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình cả về tài chính, quy mô hoạt động và chất lượng sản phẩm dịch vụ. (Thông tin trích Báo cáo thị trường năm 2009, triển vọng 2010 của PSI)
CÁC CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH CỦA CÁC NHTM NIÊM YẾT TẠI HOSE VÀ HNX
Chỉ tiêu
Năm
VCB
CTG
ACB
STB
EIB
SHB
Tổng tài sản
2006
166.952
135.443
44.645
24.776
18.324
1.322
2007
197.408
166.113
85.392
64.573
33.71
12.367
2008
221.95
193.59
105.306
68.439
48.248
14.381
2009E
225.093
226.57
169.513
98.243
62.867
21.156
NVCSH
2006
11.127
5.638
1.654
2.87
1.947
511
2007
13.552
10.647
6.258
7.35
6.295
2.178
2008
13.79
12.336
7.766
7.759
12.844
2.267
2009E
15.798
16.378
9.853
9.346
13.875
2.43
LN sau thuế
2006
2.875
603
505
470
258
7
2007
2.398
1.149
1.76
1.398
463
127
2008
2.52
1.804
2.211
955
711
195
2009E
4.432
2.264
2.113
1.425
1.144
336
ROE
2006
25,84%
10,69%
30,56%
16,38%
13,28%
1,38%
2007
19,43%
14,12%
44,49%
27,36%
11,25%
9,44%
2008
18,44%
15,70%
31,53%
12,64%
7,43%
8,76%
2009E
29,96%
15,77%
23,99%
16,66%
8,56%
14,33%
ROA
2006
1,72%
0,45%
1,13%
1,90%
1,41%
0,53%
2007
1,32%
0,76%
2,71%
3,13%
1,78%
1,85%
2008
1,20%
1,00%
2,32%
1,44%
1,74%
1,46%
2009E
1,98%
1,08%
1,54%
1,71%
2,06%
1,89%
EPS CB
2009E
3.663
2.012
2.716
2.127
1.306
1.682
B/V
2009E
13.055
14.555
12.664
13.948
15.835
12.149
P/E
2009E
12,8
13,6
14,3
11,3
18,4
12,8
P/B
2009E
3,6
2,0
2,9
1,7
1,5
1,8
(Nguồn PSI tổng hợp)