Mỹ tuyên bố kết thúc chiến tranh Iraq: Đằng sau tượng đài chiến thắng

Xem tin gốc 

Đại Đoàn Kết - 5 tháng trước 328 lượt xem

Trong bài phát biểu ở căn cứ quân sự Fort Campbell (bang Kentucky) ngày 19-3-2004, Tổng thống Mỹ G.Bush khẳng định rằng, mệnh lệnh tấn công Iraq do ông ban hành một năm trước đây đã "làm cho thế giới tốt hơn và người Mỹ được an toàn hơn”. Tuy nhiên, thực tế diễn ra không hoàn toàn đúng như những gì mà ông Bush nói. Bởi vậy, ông John Kerry, ứng cử viên tranh cử tổng thống của Đảng Dân chủ đã cáo buộc quyết định của ông Bush là "tạo ra những kẻ khủng bố ở những nơi mà chúng vốn không có”

Trong bài phát biểu ở căn cứ quân sự Fort Campbell (bang Kentucky) ngày 19-3-2004, Tổng thống Mỹ G.Bush khẳng định rằng, mệnh lệnh tấn công Iraq do ông ban hành một năm trước đây đã "làm cho thế giới tốt hơn và người Mỹ được an toàn hơn”. Tuy nhiên, thực tế diễn ra không hoàn toàn đúng như những gì mà ông Bush nói. Bởi vậy, ông John Kerry, ứng cử viên tranh cử tổng thống của Đảng Dân chủ đã cáo buộc quyết định của ông Bush là "tạo ra những kẻ khủng bố ở những nơi mà chúng vốn không có”



Kết cục của cuộc Chiến tranh vùng Vịnh thứ 2

Thế giới tốt hơn sau chiến tranh Iraq?


Ngày 20-3-2003, Tổng thống Mỹ G.Bush đã phát động cuộc tấn công Iraq với lý do nước này sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD) và là "mối đe dọa nguy hiểm cho toàn thế giới”. Sau khi chính quyền của cựu Tổng thống Saddam Hussein bị Mỹ lật đổ, quân đội Mỹ đã tiến hành nhiều đợt lùng sục trên khắp đất nước Iraq, nhưng vẫn không tìm ra bất cứ bằng chứng nào về WMD. Đến nay, những tranh cãi về lý do phát động cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt. Nhưng chẳng có ai tranh cãi xung quanh những thiệt hại về sinh mạng và kinh tế của cả hai phía.

Sau chiến tranh Iraq, những người theo "học thuyết Bush” cho rằng Tổng thống Bush đã hành động đúng và cuộc tấn công Iraq chóng vánh và ít tàn phá năm 2003 là cần thiết - một nước cờ ngăn cản một cuộc chiến do Iraq gây ra mà tầm hủy diệt không lường trước được? Họ còn cho rằng: Cuộc xâm lược Iraq thật sự đã xóa bỏ đi cái không khí của một nền hòa bình đầy biến động và lo sợ. Nó làm cho các nước có tiềm năng về vũ khí sinh hóa và nguyên tử như Iran, Syria, Bắc Triều Tiên... bớt ngoan cố. Đó chỉ là sự ngụy biện. Những vũ khí thông thường mà quân đội Mỹ "khám phá” được ở Iraq và những vụ xung đột nhỏ lẻ vẫn diễn ra ở Iraq thì sao có thể trở thành "mối đe dọa nguy hiểm cho toàn thế giới” hay gây ra một cuộc "chiến tranh hủy diệt” được? Những diễn biến mới nhất về các vụ thử tên lửa ở Bắc Triều Tiên hay tuyên bố đóng cửa eo biển Hormuz của Iran để phản ứng với dự định cấm vận thêm của Mỹ có phải là sự bớt ngoan cố? Có chăng, cuộc xâm lược Iraq của Mỹ là hành động "sen đầm” của một tên đế quốc đầu sỏ, một sự can thiệp thô bạo vào tình hình nội bộ của một đất nước có chủ quyền? Thế giới 9 năm qua biến động hơn, xung đột nhiều hơn chỉ "tốt” với những tên lái súng Mỹ, những nhà thầu và công ty bảo hiểm nhân thọ của Mỹ.

Từ năm 2003 đến nay, nếu xem xét tình hình đơn thuần dưới góc độ thắng lợi quân sự, Mỹ đã nhanh chóng lật đổ hai chính phủ mà họ coi là "ương ngạnh” là Iraq và Lybia. Ưu thế của Lầu Năm Góc trên chiến trường là rõ ràng và khó có thể ngăn cản được. Ngày 24-7-2003, Phó Tổng thống Mỹ Dick Cheney đưa ra đánh giá lạc quan: "Từng bước một, ở mọi nơi trên thế giới, chúng tôi sẽ tìm ra và tiêu diệt khủng bố”. Tuy nhiên, Mỹ bị coi là lợi dụng những cuộc tấn công để "xâm chiếm” các nước Hồi giáo - Afghanistan và Iraq. Nhiều người nhìn nhận cuộc chiến chống Iraq dưới "triều đại” Saddam Hussein chỉ là hành động nhằm vào đa số thường dân vô tội, vốn đã đau khổ do lệnh cấm vận của Liên Hợp Quốc kéo dài 12 năm.

Bên cạnh đó, người ta còn buộc tội Mỹ muốn thay đổi chế độ ở các nước Hồi giáo và Ảrập và sẽ không dừng lại ở Kabul, Baghdad hay Tripoli. Lời đe dọa Syria và Iran phải thay đổi chính sách chỉ càng khẳng định quan điểm đó. Trong bối cảnh đó thì Mỹ và Anh - hai đồng minh thân thiết, mất sự ủng hộ của thế giới Ảrập và Hồi giáo là điều đương nhiên.

Đối với Iraq, kể từ khi Mỹ phát động cuộc chiến tranh xâm lược đất nước nhiều dầu mỏ này đến nay, hàng chục nghìn người ở Iraq đã trở thành nạn nhân của các vụ đánh bom tự sát, hiện tượng chưa từng xảy ra tại Iraq trước đó. Theo thống kê của tạp chí Y khoa Lancet (Anh) hồi tháng 8-2011, đã có 1.003 vụ đánh bom liều chết ở Iraq làm 12.284 người dân Iraq thiệt mạng (trong tổng số 108.624 dân thường Iraq thiệt mạng vì chiến tranh) và làm bị thương ít nhất 30.000 người kể từ khi chiến tranh bắt đầu năm 2003. Nhiều nhà bình luận phương Tây cho rằng, thực tế còn cao hơn nhiều các con số đó.



"Chiến tranh của Bush năm 2003”

Bên cạnh các vụ đánh bom tự sát là những vụ "tắm máu” thường dân Iraq của lính Mỹ và liên quân. Ngày 22-10-2011, trang mạng WikiLeaks tung ra gần 400.000 tài liệu quân sự mật mới, theo đó bộ mặt thật của cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Iraq bị phơi bầy với những cuộc tắm máu: dân thường Iraq bị giết hại vô tội vạ ở các trạm kiểm soát; tù binh Iraq bị lực lượng liên quân tra tấn, cưỡng hiếp, thậm chí sát hại... "Thà giết nhầm còn hơn bỏ sót” là khẩu hiệu của quân Mỹ ở Iraq. Theo các hồ sơ mật mà WikiLeaks tiết lộ, ít nhất 109.000 người, trong đó có tới 63% là dân thường, đã thiệt mạng ở Iraq trong khoảng thời gian Mỹ và đồng minh đưa quân vào quốc gia vùng Vịnh này từ tháng 3-2003 đến cuối năm 2009.

Mặc cho những vụ đánh bom đường phố, các vụ ám sát, các cuộc tấn công vẫn đang là một phần của cuộc sống thường nhật đối với người dân Iraq, lính Mỹ vẫn rút đi theo kế hoạch. Các vụ tấn công của Al-Qaeda cũng là một trong những lo ngại lớn đối với người dân Iraq.

Trong cuộc gặp Thủ tướng Iraq Nouri Maliki ở Washington ngày 13-12-2011, ông Obama nói rằng Mỹ sẽ tiếp tục ủng hộ Iraq. Hai bên cam kết tiếp tục quan hệ chiến lược lâu dài. Tuy nhiên, rất nhiều người ở cả hai phía vẫn lo ngại rằng Iraq thiếu cấu trúc chính trị và năng lực để bảo vệ biên giới của mình nên hoặc quốc gia vùng Vịnh này sẽ rơi trở lại vào tắm máu sắc tộc, tôn giáo, hoặc sẽ rơi vào ảnh hưởng của Iran. Kể từ khi quân đội Mỹ lật đổ cựu Tổng thống Saddam Hussein, ngọn lửa mâu thuẫn phe phái tại Iraq vốn âm ỉ từ lâu nay có dịp bùng lên khi hôm 17-12-2011 Bộ Nội vụ Iraq ra lệnh bắt Phó Tổng thống Tariq al-Hashemi, quan chức cấp cao nhất của người Hồi giáo dòng Sunni. Việc công bố bắt giữ ông Hashemi với cáo buộc tổ chức tấn công nhằm vào quan chức và cảnh sát Iraq được xem là hành động "đổ thêm dầu” vào sự căng thẳng phe phái đặc biệt trong bối cảnh quân đội Mỹ rút khỏi để lại khoảng trống an ninh và mối bất ổn tiềm tàng tại quốc gia này. Thủ tướng Nouri al-Maliki, một người Hồi giáo dòng Shiite, bị coi là người đứng đằng sau chiến dịch bôi nhọ thanh danh ông Hashemi. Diễn biến mới nhất này có thể khiến thỏa thuận chia sẻ quyền lực mong manh giữa cộng đồng người Shiite, người Sunni và người Kurd có thể đổ vỡ bất cứ lúc nào, "tạo sự nghi ngờ lẫn nhau”, "ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình tái thiết chính trị quốc gia cần có sự tham gia của tất cả các đảng phái”, đẩy Iraq đứng bên bờ vực nội chiến.

Theo số liệu của chính phủ Iraq, khoảng 1/3 dân số nước này đang sống dưới mức nghèo khổ. Tỷ lệ thất nghiệp ước tính vào khoảng 15% với hàng trăm nghìn người vẫn không có việc làm. Số người làm bán thời gian chiếm 28%. Thủ tướng Iraq Nouri al-Maliki đã kêu gọi lãnh đạo doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào nước này để giúp Iraq phục hồi qua nhiều năm chiến tranh.

Như vậy, sau cuộc chiến Iraq năm 2003, thế giới vẫn bất ổn, quốc gia vùng Vịnh nhiều dầu mỏ này vẫn hoang tàn trong đống đổ nát và chết chóc. Bây giờ cựu Tổng thống Bush liệu có muốn rút lại tuyên bố của mình?



Người dân thường Iraq luôn là nạn nhân của các vụ khủng bố

Sau cuộc chiến Iraq người Mỹ được an toàn hơn?

Ngày 31-8-2011, nước Mỹ chính thức kết thúc cuộc chiến tranh ở Iraq bằng những nghi thức trang nghiêm, bằng bài phát biểu của Tổng thống Barack Obama ở Mỹ và lễ cuốn cờ ở Iraq, sau hơn tám năm rưỡi hao người tốn của ở xứ người. Mỹ đã để lại một đất nước Iraq đổ nát, mang về Mỹ những lợi nhuận kếch xù cho các tập đoàn kinh tế và những nỗi đau không gì bù đắp được cho người dân nước mình.

Cả việc phát động lẫn kết thúc cuộc chiến tranh này đều là những dấu mốc đáng chú ý trong lịch sử nước Mỹ. Nó làm thay đổi nước Mỹ và cả sự nhìn nhận của bên ngoài về nước Mỹ. Cái giá đắt nhất mà Mỹ đã phải trả ngoài 4.487 binh lính Mỹ bị thiệt mạng, hơn 30.000 quân Mỹ bị thương và cùng với số tiền rất lớn đổ vào Iraq là tai tiếng đã bịa lý do, tạo bằng chứng giả và bất chấp luật pháp quốc tế để phát động cuộc chiến tranh. Trong khi kết quả đáng kể nhất mà Mỹ đạt được với cuộc chiến tranh này là sự lật đổ chính quyền của ông Saddam Hussein và gây dựng được chính thể mới.

Theo số liệu thống kê mới nhất mà trang web antiwar.com công bố, có 4.416 lính Mỹ thiệt mạng trên chiến trường Iraq kể từ khi Mỹ tấn công và chiếm đóng nước này hồi tháng 3-2003. Tính đến nay đã có đến 106.000 lính Mỹ bị các dạng bệnh trầm cảm, tỷ lệ tự sát trong binh lính tăng kể từ năm 2004 và đến 2008 thì vượt ngưỡng trung bình trong dân chúng. Theo báo cáo của tướng Peter Charelli công bố ngày 8-8-2010, nếu tính luôn số binh lính tự gây tai nạn cho mình thì tỷ lệ chết bởi chính hành động của họ còn cao hơn tỷ lệ tử trận.

Cuộc xâm lược Iraq không chỉ hao người mà còn tốn của đối với Mỹ, với số tiền khổng lồ lên đến 1.000 tỉ USD. Đơn cử, chỉ trong năm 2006, chi phí trực tiếp cho quân Mỹ tại Iraq vào khoảng 6 tỉ USD/tháng, hay 200 triệu USD/ngày. Theo ước tính của các tổ chức chống chiến tranh, số tiền mà Mỹ đã "nướng” vào cuộc chiến này nếu được dùng để chi tiêu cho các chính sách giáo dục thì không một sinh viên nào của Mỹ phải đóng học phí.

Cuộc chiến tranh Iraq còn làm nội bộ xã hội Mỹ phân hóa sâu sắc. Ở thời điểm phát động hồi tháng 3-2003, chỉ khoảng một nửa dân Mỹ tán đồng với quyết định gây chiến tranh của Chính phủ. Vào thời điểm Chính phủ Mỹ tuyên cáo chấm dứt chiến tranh, có tới hai phần ba dân Mỹ muốn quân đội Mỹ rút khỏi đó nhanh chóng. Nước Mỹ bị mỏi mệt vì cuộc chiến tranh ở Afghanistan và cuộc chiến tranh này, luôn tự đặt ra và phải trả lời câu hỏi về cái được và mất, về ý nghĩa của chúng đối với tương lai của nước Mỹ. Câu trả lời cho câu hỏi đó thật không dễ dàng và thống nhất, bởi người dân sẽ nghĩ khác giới chính trị và quân sự ở nước Mỹ. Rồi đây, nước Mỹ sẽ không thể tránh khỏi cái gọi là "Hội chứng Afghanistan và Iraq”.

Văn Úc

Gửi cho bạn bè

Bản in

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang