Trong năm cầm quyền đầu tiên, Tổng thống Barack bama, Phó Tổng thống Joe Biden và các quan chức cấp cao khác trong nội các Chính phủ Mỹ đã có một loạt chuyến công du tới Mỹ Latinh. Điều đó khiến giới quan sát cho rằng Chính quyền Obama sẽ đặt ưu tiên cao trong quan hệ với các nước tại Mỹ Latinh. Tuy nhiên, những sự kiện diễn ra sau đó - như việc Quốc hội Mỹ chậm trễ thông qua một số đề cử đối với các vị trí trong Chính phủ Mỹ phụ trách các vấn đề về khu vực - khiếnnhiều người hoài nghi về nhận định có vẻ lạc quan ban đầu. Vì vậy, chuyến công du của Ngoại trưởng Hillary lần này là nhằm mục đích tăng cường hình ảnh của chính quyền Tổng thống Obama ở khu vực đồng thời chuyển một thông điệp "nước Mỹ vẫn chưa quên khu vực này". Chương trình nghị sự của bà Hillary trải rộng trên một loạt vấn đề từ dân chủ, an ninh cho đến vấn đề hạt nhân Iran.
Giới chuyên gia và các nhà phân tích chính trị cho rằng chuyến công du của bà Hillary có thể được xem là một nỗ lực mới nhằm hàn gắn mối quan hệ bị sứt mẻ của Mỹ với khu vực liên quan đến việc Washington giải quyết cuộc đảo chính ở Honduras hồi cuối năm 2009.
Nhiều người đã thất vọng với việc Mỹ can thiệp vào cuộc khủng hoảng ở Honduras. Dù tác động cuộc khủng hoảng Honduras đang mất dần, nhưng đây vẫn là điều khó chịu đối với nhiều nước trong khu vực.
Có một số lĩnh vực mà Chính quyền Obama thể hiện tính tiên phong hơn và có sự khác biệt với chính sách cũ. Chính quyền Obama đã bỏ việc hạn chế đi lại và việc gửi tiền về quê của những người Mỹ gốc Cuba. Mỹ cũng nối lại đàm phán về vấn đề di cư và buôn bán ma túy với Cuba. Tuy nhiên, Chính quyền Mỹ vẫn từ chối bãi bỏ trừng phạt kinh tế và do đó hố sâu ngăn cách giữa hai nước vẫn rộng.
Phản ứng tích cực của Mỹ đối với vụ động đất ở Haiti, cũng như sẵn sàng làm như thế đối với vụ động đất ở Chilê, tuy có góp phần làm cho các nước Mỹ Latinh sẵn sàng hợp tác hơn trong tương lai, nhưng lĩnh vực hợp tác thì nhìn chung vẫn như thời Tổng thống Bush, đó là thương mại, di cư, chống buôn bán ma túy và an ninh. Chỉ có thêm một vấn đề mới đó là biến đổi khí hậu toàn cầu.
Về phần mình, trong một thập niên qua, các nước Mỹ Latinh cảm thấy ảnh hưởng của Mỹ đối với khu vực đang giảm dần và họ bắt đầu thể hiện điều này qua việc thành lập Liên minh Bolivar dành cho châu Mỹ (ALBA) hay Liên minh các quốc gia Nam Mỹ (UNASUR). Gần đây nhất, 32 quốc gia đã họp ở Cancún (Mexico), thống nhất thành lập một tổ chức toàn khu vực mới – « Cộng đồng các quốc gia Mỹ Latinh và Caribê ». Tổ chức mới này không những không bao gồm Mỹ và Canađa mà nhiều nhà lãnh đạo còn muốn nó thay thế Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) - tổ chức mà Mỹ chi phối. Việc thành lập một tổ chức mới cho thấy sức mạnh của Mỹ giảm đi khi mà nhiều nước tìm cách ít phụ thuộc hơn vào Mỹ và xây dựng mối quan hệ kinh tế, thương mại và chính trị nội khu vực và với các cường quốc đang nổi lên như Trung Quốc và Ấn Độ. Do vậy, chuyến đi ít phần quan trọng và cũng ít tham vọng của Ngoại trưởng Clinton lần này có thể là một tiêu chuẩn mới trong quan hệ của khu vực này.
Tuy thê, chuyến công du của Ngoại trưởng Mỹ tới phần phía Nam của Tây bán cầu, có một mục tiêu lớn là tìm nguồn cung cấp dầu khí, những nguồn năng lượng mà Mỹ đang rất cần. Mỹ hiện là nướctiêu thụ dầu thô và các phụ phẩm lớn nhất trên thế giới, chiếm 22,5% lượng tiêu thụ toàn cầu, vượt trên Liên minh châu Âu (EU) – 17,9% và Trung Quốc – 10%. Tương tự, siêu cường này cũng đứng đầu về tiêu thụ khí đốt thiên nhiên - chiếm 22% lượng tiêu thụ toàn cầu, so với EU – 16,2% và Nga 13,9%. Và mặc dù dẫn đầu thế giới về mức tiêu thụ 2 loại năng lượng này, Mỹ chỉ sở hữu lần lượt 2,4% và 3,6% trữ lượng toàn cầu về dầu mỏ và khí đốt. Với tốc độ khai thác như năm 2008, trữ lượng của Mỹ sẽ cạn kiệt trong khoảng 2020 và 2022. Nhưng như mọi người đều biết, Mỹ đã mất khả năng tự cấp năng lượng từ hơn nửa thế kỷ qua, và sản lượng khai thác dầu thô nội địa của họ đã sụt giảm một cách không thể đảo ngược và nhanh dần kể từ năm 1985. Theo báo cáo mới nhất của công ty BP, Mỹ hiện tại nhập khẩu mỗi ngày khoảng 10,9 triệu thùng dầu thô (bao gồm cả sản phẩm phụ quy đổi), tương đương 56% và nhập khẩu 12% lượng khí đốt tiêu thụ toàn quốc.
Hiện tại, quốc gia cung cấp dầu thô số 1 cho Mỹ là Canađa với tỷ trọng khoảng 20%, tiếp đó là Saudi Arabia, Mexico và Venezuela.
Canađa và Mexico, hai nước cung cấp tới 32,3% lượng dầu thô nhập khẩu của Mỹ. Những khó khăn của Mexico và Canađa trong vai trò nhà cung cấp đảm bảo và đáng tin cậy cho Mỹ đã biến nguồn dầu khí từ Nam Mỹ, mà cụ thể là từ Venezuela thành yếu tố then chốt đối với vận động của nền kinh tế lớn nhất thế giới. Trên thực tế, Venezuelahoàn toàn có thể trở thành nhà cung cấp chiến lược đầu khí cho Mỹ nhờ hội tụ được các yếu tố mà cả Mexico và Canađa đều thiếu như: 1) triển vọng rất sáng sủa trong việc tăng cường sản lượng; 2) trữ lượng khổng lồ với tỷ lệ khai thác còn thấp; 3) giá thành khai thác phải chăng; 4) các công ty của Mỹ làm chủ công nghệ khai thác và lọc các loại dầu thô nặng và siêu nặng của Venezuela; 5) khoảng cách địa lý giữa hai nước ngắn; 6) nhu cầu nội địa về tiêu thụ xăng dầu kể cả trực tiếp và gián tiếp (nhiệt điện v.v…) đều ở mức thấp. Rõ ràng, không có gì tuyệt vời cho nền an ninh năng lượng của Mỹ bằng một chính phủ thân Mỹ tại Caracas. Thế nhưng, ngược lại với quyền lợi của Mỹ, nhà cung cấp dầu thô thứ 4 của họ và nhiều khả năng là đất nước giầu tiềm năng dầu khí nhất thế giới lại đang bắt đầu đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thậm chí tới các kẻ thù đã tuyên bố hoặc các địch thủ cạnh tranh trực tiếp của Mỹ. Không chỉ sử dụng dầu khí như một quân bài địa chính trị, Venezuela còn đang đặt ra mục tiêu công nghiệp hóa, tự chủ về công nghệ và phát triển kinh tế xã hội trong nước và khu vực (Trung Mỹ, Caribê và vùng Anđes) trong một khoảng thời gian ngắn, chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên này.
Dưới góc nhìn địa chính trị và an ninh năng lượng, không khó để hiểu vì sao 3 chuỗi sự kiện – xung đột nổi bật nhất trong những năm qua tại Mỹ Latinh: cuộc đảo chính tại Honduras, việc Colombia tấn công vào lãnh thổ Ecuador tháng 3/2008, và căng thẳng ngoại giao giữa Venezuela và Colombia (đã lan sang lĩnh vực kinh tế và thương mại), đều nằm trong khu vực “Trung Đông châu Mỹ” này.
Từ những phân tích trên, chuyến công du 6 nước Mỹ Latinh của Ngoại trưởng Mỹ thể hiện một cách tiếp cận mới của Mỹ đối với khu vực này, từng một thời là sân sau của Mỹ, nhưng đang dần xa người láng giềng khổng lồ Bắc Mỹ vì Mỹ đã « bỏ quên » khu vực này trong nhiều năm qua do mải dính líu các cuộc chiến tranh tại Iraq và Afghanistan./.
Nguyễn Chiến