Mỹ phải "tế nhị" khi ứng xử với Trung Quốc

Xem tin gốc 

Tuần Việt Nam - 27 tháng trước 203 lượt xem

My phai 'te nhi' khi ung xu voi Trung Quoc

Học giả Francis Fukuyama và cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson đối thoại về Trung Quốc, Phố Wall và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Francis Fukuyama là tác giả cuốn sách "Điểm tận cùng của lịch sử và con người cuối cùng". Mới đây, cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson cũng xuất bản cuốn hồi ký "Bên bờ vực: Nội tình cuộc đua nhằm ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tài chính toàn cầu".

Francis Fukuyama: Trong thời kỳ ông nhiều lần đi công cán tới Trung Quốc, nhiều nhà quan sát bày tỏ quan ngại về nguy cơ mất cân bằng nghiêm trọng trong cơ cấu của nền kinh tế toàn cầu: Trung Quốc tiết kiệm quá nhiều trong khi Mỹ nợ nần chồng chất. Những dòng ngoại tệ cuồn cuộn đổ vào hệ thống tài chính và ngân hàng Mỹ, khuyến khích tâm lý "ưa rủi ro" và góp phần tạo nên bong bóng bất động sản.

Bây giờ nhìn lại, theo ông, đâu là nguyên nhân dẫn tới sự mất cân bằng đó, khiến cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra vào nửa cuối năm 2008?

Henry Paulson: Theo tôi, sự mất cân bằng chủ yếu bắt rễ từ thói quen vay nhiều, tiết kiệm ít của Mỹ trên cả phương diện cá nhân và quốc gia. Có rất nhiều chính sách góp phần tạo nên thói quen này. Ví dụ, luật thuế của chúng ta đánh thuế vào vốn và các khoản tiết kiệm nhưng lại khuyến khích tiêu dùng; các chính sách về nhà ở đã kích thích thị trường nhà đất thông qua Fannie Mae, Freddie Mac, các chương trình FHA, thuế... Tất cả những điều này đã góp phần thổi phồng bong bóng tài sản.

Ngược lại, nhiều quốc gia, trong đó có Trung Quốc, lại có tỷ lệ tiết kiệm cao, và tiêu dùng nội địa giữ một vai trò khiêm tốn hơn trong nền kinh tế.

Khi tôi trở thành Bộ trưởng Tài chính, chúng tôi thiết lập diễn đàn Đối thoại Kinh tế Chiến lược (SED) để giải quyết mối quan hệ kinh tế Mỹ - Trung. Thông qua SED, chúng tôi tìm kiếm những giải pháp thiết thực để xử lý sự mất cân bằng kinh tế. Trong đó, tiền tệ là một vấn đề được quan tâm sâu sắc bởi việc hướng tới một đồng tiền do thị trường định giá sẽ thúc đẩy quá trình cải cách và giúp Trung Quốc kích thích tiêu dùng nội địa, sản xuất các mặt hàng và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn, cũng như bớt phụ thuộc vào việc xuất khẩu các mặt hàng giá trị thấp.

Đồng thời, tôi cũng kỳ vọng Trung Quốc đẩy mạnh cải cách và mở cửa thị trường vốn, không phải vì tôi muốn hỗ trợ các ngân hàng, mà vì tôi tin rằng một thị trường vốn nội địa năng động sẽ giúp Trung Quốc thực hiện những cuộc chuyển hóa về mặt cơ cấu mà họ đang ước ao đạt được.

Tôi vẫn thường nêu ra ví dụ này: Ở Trung Quốc, những cá nhân gửi tiết kiệm tại ngân hàng thường phải chịu mức lãi suất rất thấp, không đủ bù đắp tốc độ lạm phát. Do thị trường vốn kém hiệu quả, thực sự họ đã bị "mất tiền" hoặc không nhận được khoản lãi nào đáng kể. Trong khi đó, các chương trình phúc lợi và hưu trí hết sức khiêm tốn của chính phủ lại buộc họ phải tiết kiệm nhiều hơn.

Chúng tôi cũng tập trung nghiên cứu tỷ lệ tiết kiệm cao của các doanh nghiệp Trung Quốc, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, tôi rất quan tâm về vấn đề mất cân bằng.

Fukuyama

Paulson: Đúng vậy. Khi còn là Bộ trưởng Tài chính, tôi đã chứng kiến từng bước chuyển quan trọng của đồng Nhân dân tệ. Theo tôi, cách đúng đắn để ứng xử với Trung Quốc là vừa động viên họ, vừa công khai thừa nhận rằng họ đang dành sự ưu tiên cao độ cho việc phát triển và cải cách kinh tế. Chúng ta cần tiếp tục khuyến khích Trung Quốc cải cách trên nhiều khía cạnh khác nhau.

Đồng tiền là vấn đề được quan tâm đặc biệt bởi đó là điều dễ hiểu đối với nhiều người. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề khác chúng ta cần phải chú trọng. Tôi vẫn tin rằng vì lợi ích của bản thân, Trung Quốc sẽ tiếp tục tiến bước trên con đường dẫn tới một nền kinh tế thị trường thực thụ. Chúng ta cần liên tục thúc đẩy quá trình cải cách này, nhưng phải thật tế nhị, tránh lên án và lên mặt dạy bảo họ một cách công khai.

Fukuyama: Tôi thấy dường như không có nhà hoạch định chính sách nào của Mỹ tỏ ra quyết tâm trong vấn đề này. Ta có thể coi chính sách tiền tệ của Trung Quốc như một dạng chính sách công nghiệp. Nhưng khác với Hàn Quốc và Nhật Bản, Trung Quốc không trợ giá cho một ngành cụ thể nào cả.

Họ đơn giản chỉ đem lại cho khu vực sản xuất ở miền duyên hải một ưu thế lớn so với các khu vực khác trên thế giới bằng cách neo tỷ giá Nhân dân tệ - USD ở mức thấp vô lý.

Nếu chính sách này đang gây hại cho Mỹ thì đương nhiên nó cũng bất lợi đối với Châu Âu và Châu Á. Trên một khía cạnh nào đó, Trung Quốc thực sự đang cản trở quá trình công nghiệp hóa của các nước khác. Từ khi chế độ hạn ngạch dệt may của WTO được dỡ bỏ, tôi đã tới thăm các nhà máy ở Mỹ Latinh và tận mắt chứng kiến các hợp đồng gia công lũ lượt rời bỏ họ để "bay" sang Trung Quốc.

Nếu ta cho rằng việc Trung Quốc trợ giá xuất khẩu thông qua chính sách tiền tệ không khác gì việc trợ giá trực tiếp đối với các ngành công nghiệp chế tạo và xuất khẩu đó, cách thông thường để xử lý sẽ là áp thuế quan hoặc các biện pháp trừng phạt khác. Điều này sẽ dẫn tới hàng loạt may rủi nhưng cuối cùng sẽ tạo động lực để Trung Quốc thay đổi chính sách của mình.

Hãy nhớ lại Hiệp ước Plaza giữa Mỹ và Nhật Bản vào những năm 1980. Thời đó, Nhật Bản cũng tạo ra một sự mất cân bằng kinh tế vô cùng nghiêm trọng. Là một đồng minh của Mỹ và lo ngại Mỹ sẽ phản ứng bằng cách bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước, Nhật đồng ý tái định giá đồng Yen. Trong khi đó, Trung Quốc vừa không phải là đồng minh, vừa tạo sự mất cân bằng lớn hơn Nhật, vậy mà ta lại ứng xử với họ nhu nhược hơn rất nhiều. Tại sao vậy?

Paulson: Tôi đã từng nghe những phản biện như vậy và tôi hiểu. Nhưng tôi không tin rằng thuế quan hay các chế độ bảo hộ sẽ giải quyết được vấn đề. Mặc dù hiện nay trên thế giới vẫn còn rất nhiều nước giữ chế độ tỷ giá cố định, nhưng điều đáng nói ở đây là: Trung Quốc tuy là một nền kinh tế quan trọng, một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế toàn cầu nhưng lại không có một đồng tiền do thị trường định giá và một hệ thống tài chính mở.

Vì thế, chúng ta cần thúc đẩy Trung Quốc thả nổi tỷ giá. Nhưng đây không chỉ là sứ mệnh của riêng nước Mỹ. Quỹ Tiền tệ Quốc tế cũng như các đối tác thương mại của Trung Quốc đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình này. Ngoài ra, vẫn còn những yếu tố quan trọng khác cần phải quan tâm, ví dụ như tỷ lệ tiết kiệm của doanh nghiệp.

Bối cảnh trước mắt chúng ta quả thực rất phức tạp. Tôi tin rằng Trung Quốc rất quyết tâm cải cách cũng như muốn thay đổi tình trạng hiện tại của đồng Nhân dân tệ. Chúng ta cần khuyến khích Trung Quốc, đồng thời phải nỗ lực xử lý sự mất cân bằng của chính bản thân mình.

Fukuyama: Tôi muốn biết ý kiến ông về phản ứng của Trung Quốc trước cuộc khủng hoảng. Hiện nay, mọi người đều ca ngợi gói kích cầu khổng lồ và khả năng chống chọi khủng hoảng của Trung Quốc.

Rõ ràng là Trung Quốc đang rất hãnh diện về "sức bền" của mình (trong quý vừa qua, nước này đã lại đạt tốc độ tăng trưởng gần 10%). Nhưng dường như cách đối phó khủng hoảng của Trung Quốc đơn giản chỉ là làm nhiều hơn những điều họ đã làm. Đó là chi tiêu mạnh hơn vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm bù đắp cho sự sụt giảm của cầu tiêu dùng ở các thị trường lớn. Các dự án này đem lại lợi ích cho các nhà sản xuất ở miền duyên hải phía đông hơn là dân nghèo ở nông thôn. Ông có cho rằng đây là một giải pháp bền vững?

Paulson: Trước hết, xét về phản ứng của Trung Quốc, tôi cho rằng một trong những lợi ích của SED là đã chủ động can thiệp và tạo dựng được mối quan hệ tin cậy với Trung Quốc. Chúng tôi thường xuyên đối thoại với họ và điều này đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia.

Thứ hai, tất cả chúng ta đều muốn kinh tế Trung Quốc tiếp tụ tăng trưởng. Nếu không, cả hai bên đều thiệt hại. Tôi rất tin tưởng vào kế hoạch kích thích kinh tế của Trung Quốc. Theo tôi, hành động quan trọng nhất của họ là tăng lượng tiền cho vay của ngân hàng lên hơn 1 nghìn tỷ USD. Việc này có thể để lại một vài hậu quả xấu, nhưng tựu chung lại thì ích lợi vẫn nhiều hơn.

Tôi cũng tin rằng Trung Quốc hiểu rằng họ vẫn còn nhiều việc phải làm. Nhiều nước trên thế giới có sự chênh lệch giàu nghèo rất lớn, và đây chính là điều Trung Quốc lo ngại về bản thân mình. Tôi tin rằng kế hoạch cải cách của họ có bao gồm việc phân phối của cải một cách rộng rãi hơn. Một trong những giải pháp hữu hiệu là khuyến khích tiêu dùng nội địa và bớt lệ thuộc hơn vào xuất khẩu.

Sự mất cân bằng kinh tế xuất phát từ cả hai phía. Do đó, chúng ta không thể bỏ qua thói quen chi tiêu và vay mượn quá nhiều của mình. Chúng ta nên, và sẽ tăng cường can thiệp vào quá trình cải cách của Trung Quốc, nhưng chúng ta vẫn phải giải quyết những vấn đề của chính mình. Thật dại dột nếu chúng ta chỉ chăm chăm lo chuyện Trung Quốc và lãng quên những vấn đề đó.

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang