Ngày nay, mỗi khi con người nhắc đến “Chương trình Apollo” , thường không tiếc khi dùng những lời lẽ tán dương. Nó thực sự là một cuộc khám phá không gian dài nhất, quy mô lớn nhất, đầu tư nhiều nhất và huyền thoại nhất cho đến nay.
Chương trình Apollo là một động lực to lớn để thúc đẩy nền kinh tế dân dụng, toàn bộ công trình đã cho ra đời hơn 3000 bằng sáng chế phát minh, trong đó có ít nhất 1000 cái được dùng cho nền kinh tế quốc dân. Những vật dụng hàng ngày như tã không ướt, mã vạch, laptops, lò vi sóng… đều liên quan đến việc đặt chân lên Mặt trăng.
Tuy nhiên, cùng với những thành quả vĩ đại mà chúng ta hưởng được từ công nghệ không gian vũ trụ, cũng không nên quên một điều, những cuộc khám phá khoa học này đều bắt nguồn từ những cuộc cạnh tranh quân sự. “Chương trình Apollo” là một chiến lợi phẩm không hơn không kém từ cuộc Chiến tranh lạnh, nó xuất phát từ nhu cầu chiến lược khống chế thế giới của Mỹ.
Trong thời gian 11 năm từ năm 1961 đến năm 1972, người Mỹ đã 6 lần thành công khi đặt chân lên Mặt trăng, một kỷ lục trong lĩnh vực khám phá không gian vũ trụ mà không một nước nào có thể vượt qua. Trong thời gian từ năm 1972 đến năm 2004, Mỹ tuyên bố khởi động “Chương trình quay trở lại Mặt trăng’, mặc dù Mỹ vẫn chưa có kế hoạch đặt chân lên Mặt trăng nào, nhưng những sự khai thác công nghệ không gian của Mỹ vẫn không dừng lại. Nguyên nhân là vì, công nghệ không gian vũ trụ là một công nghệ hàng đầu quân sự, vẫn là công cụ quan trọng để Mỹ khống chế cả thế giới.
So sánh với Chương trình Apollo, tính mục tiêu của chương trình không gian sau của Mỹ mạnh hơn rất nhiều. Năm 1983, cựu tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã vứt bỏ chương trình “Chiến tranh các vì sao”. Về sau, không ít nhà phân tích cho rằng, Mỹ đã dựa vào chương trình này để làm sụp đổ Chính quyền Liên Xô cũ, giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh lạnh.
Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ đã chiếm ưu thế tuyệt đối trong lĩnh vực khám phá vũ trụ, làm tăng thêm tham vọng bá chủ vũ trụ. 70% thông tin điều tra của quân đội Mỹ, 80% thông tin điện tín và 90% thông tin khí tượng của Mỹ đều nhận được và truyền tải thông qua hệ thống vệ tinh.
Theo logic của người Mỹ, nếu trong thế kỷ 20 ai đã khống chế được đại dương, thì người đó khống chế cả thế giới, còn trong thế kỷ 21, ai khống chế được không gian vũ trụ, người đó có thể nắm cả thế giới. Ông Robert Smith, cựu nghị sỹ lâu năm của Mỹ đã từng tuyên bố: Nếu Mỹ mất đi quyền kiểm soát vũ trụ, như vậy, địa vị siêu cường quốc của Mỹ cũng sẽ không còn tồn tại.
Chương trình Apollo của 40 năm về trước đã khiến chúng ra nhìn nhận được rằng sức mạnh khoa học công nghệ của Mỹ là vô cùng lớn mạnh. Có thể tưởng tượng, nếu nước Mỹ hôm nay đem sức mạnh khổng lồ đó để giải quyết những vấn đề nan giải mà nhân loại toàn cầu đang đối mặt như biến đổi khí hậu thì sẽ giành những thành tựu vô cùng to lớn.
Điều đáng tiếc đó là, Mỹ sẽ không bao giờ có được sự lựa chọn như vậy. Mỹ là một cường quốc lớn nhất trên thế giới, khi Mỹ coi mục tiêu chiến lược của mình là quyền giám sát không gian, thì vũ trụ sẽ không có những ngày tháng yên bình nữa. Đây là một hiện thực chúng ta không thể lẩn tránh.
Mỹ phát triển vũ khí không gian với quy mô lớn, sẽ khiến cho cuộc chạy đua vũ khí không gian giữa các cường quốc trên thế giới ngày càng leo thang, đe dọa nghiêm trọng việc sử dụng không gian của nhân loại vì mục đích hòa bình. Công đồng quốc tế cũng ngày một cấp thiết kêu gọi một cơ chế có thể ngăn chặn việc quân sự hóa không gian vũ trụ.


































