Mức tăng trưởng cả năm 2009 có thể đạt 5%

Xem tin gốc 

VOV Online - 37 tháng trước 14 lượt xem

Muc tang truong ca nam 2009 co the dat 5%

Kinh tế 6 tháng đầu năm tăng trưởng tháng sau luôn cao hơn tháng trước. (VOV) - Muốn đạt mục tiêu Quốc hội đề ra cho cả năm 2009 thì 6 tháng cuối năm tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đạt 5,9%.

Sáng nay (1/7), Tổng cục Thống kê họp báo thông báo số liệu thống kê kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm 2009.

Theo ông Đỗ Thức - Tổng cục trưởng Tổng Cục Thống kê, tính chung 6 tháng đầu năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng 3,9% so với 6 tháng đầu năm 2008, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 1,2%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,48%; khu vực dịch vụ tăng 5,5%.

Tiếp tục đà tăng trưởng dương

Giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó công nghiệp khai thác tăng 8,6%, chủ yếu nhờ sản lượng dầu thô khai thác tăng mạnh; công nghiệp chế biến tăng 4,4%; công nghiệp điện, ga và nước tăng 8,1%.

Tháng 6, sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng cao hơn tháng trước. Như vậy giá trị sản xuất công nghiệp cả nước tăng liên tục trong 5 tháng qua (tháng 2 tăng 8,4%; tháng 3 tăng 2,3%; tháng 4 tăng 5,4%; tháng 5 tăng 6,8%, tháng 6 tăng 8,2%).

Tốc độ tăng của ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm đạt mức 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công nghiệp khai thác tăng 10,4%; công nghiệp chế biến đã phục hồi và có tăng trưởng dương đạt mức 1,5%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước tăng 6,7%. Một số địa phương có tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao 6 tháng đầu năm là Quảng Ninh 11,5%, Bà Rịa-Vũng Tàu 10,6%...

Theo ông Nguyễn Bích Lâm – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, 6 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng tháng sau cao hơn tháng trước. Đây là tín hiệu tốt cho thấy khu vực công nghiệp nước ta đang dần hồi phục, đi vào phát triển ổn định để vượt qua thời kỳ khó khăn.

Sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp vượt qua nhiều khó khăn đạt được kết quả tốt, ước đạt 96,6 nghìn tỷ đồng trong 6 tháng, tăng 2,5% so với cùng kỳ.

Do diện tích và năng suất các vùng đều tăng mạnh nên sản lượng lúa đông xuân đạt trên 18,6 triệu tấn, tăng 31,2 vạn tấn so với cùng kỳ 2008.

Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 2,278 triệu tấn, tăng 5%. “Sản lượng thủy sản tăng chủ yếu là đánh bắt, trên 1 triệu tấn” – ông Đỗ Thức cho biết.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 6 tháng ước đạt 547 nghìn tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ.

Xuất - nhập khẩu đều giảm

Theo Tổng Cục thống kê, tính chung 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2009 ước đạt 25,1 tỷ USD, giảm 18,6% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 6 tháng giảm chủ yếu do giá trên thị trường thế giới giảm sút và đứng ở mức thấp.

Do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế thế giới nên kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 6 tháng đầu 2009 sang các thị trường chủ yếu đều giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó thị trường Nhật Bản giảm mạnh ở mức 40%, EU giảm 16%, Hàn Quốc giảm 11%, Trung Quốc giảm 9%…

Chỉ tính 8 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu (dầu thô, than đá, gạo, cà phê, hạt điều, cao su, chè, hạt tiêu) về giá bình quân 6 tháng đầu năm 2008 thì kim ngạch đã tăng thêm 5 tỷ USD, và như vậy, tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước 6 tháng đầu năm tăng 6,3%.

Mặc dù vậy, 6 tháng đầu năm các mặt hàng xuất khẩu nông sản như sắn, gạo, hạt tiêu, hàng thủy sản liên tiếp có mức tăng trưởng dương và tăng cao so với cùng kỳ.

Về nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu tháng 6 ước đạt 29,7 tỷ USD, giảm 34,21% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó máy móc, thiết bị giảm 22,7%; hàng tiêu dùng tăng 2,6%. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu giảm do một số mặt hàng nhập khẩu giảm về lượng, nhưng chủ yếu là do giá trên thị trường thế giới giảm (giá xăng dầu giảm 52%, giá phân bón giảm 33%, giá sắt thép giảm 31%; giá chất dẻo giảm 32%; giá sợi dệt giảm 23%).

Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu đã có sự thay đổi: máy móc, thiết bị chiếm 29,4% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 6 tháng (cùng kỳ năm 2008 là 25,2%); hàng tiêu dùng chiếm 9,6% (cùng kỳ năm trước là 6,2%). Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2009 từ khu vực ASEAN ước tính đạt 6 tỷ USD, giàm 34% so với cùng kỳ năm 2008; nhập khẩu từ Trung Quốc ước tính đạt 7 tỷ USD, giảm 27%; Hàn Quốc ước tính đạt 3 tỷ USD, giảm 32%; Nhật Bản ước tính đạt 3 tỷ USD, giảm 37%.

Nhập siêu hàng hóa tháng 6/2009 ước tính 1,2 tỷ USD, thấp hơn mức nhập siêu 1,25 tỷ USD của tháng trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2009 nhập siêu 2,1 tỷ USD, bằng 14,7% cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ vàng tái xuất của quý I thì nhập siêu hàng hóa 6 tháng là 4,6 tỷ USD, trong đó quý I nhập siêu 1 tỷ nhất của Việt Nam với mức nhập siêu trong 6 tháng ước tính 5 tỷ USD; Mỹ và EU tiếp tục là các thị trường xuất siêu ở mức 3,9 tỷ USD và 2,1 tỷ USD.

Tiếp tục kiểm soát giá cả

So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 chỉ tăng 0,32%; tháng 2 tăng 1,17%; tháng 3 giảm 0,17%; tháng 4 tăng 0,35%; tháng 5 tăng 0,44% và tháng 6/2009 tăng 0,55%.

Giá tiêu dùng tháng 6/2009 so với tháng 12 năm 2008 tăng 2,68% do giá của hầu hết các nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đều tăng, trong đó hàng ăn và dịch ăn uống tăng 2,5% (lương thực tăng 0,59%; thực phẩm tăng 2,2%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,65%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,65%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,51%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng trên 3%; các nhóm khác tăng từ 0,4 – 1,8%; riêng nhóm phương tiện đi lại, bưu điện giảm 0,57% và nhóm đồ dùng, dịch vụ khác tăng 7,6%.

Nếu so với giá bình quân 6 tháng đầu năm 2008 thì chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm nay đã tăng 10,27%, trong đó hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 14,81%; đồ uống và thuốc lá tăng 11,21%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 10,88%; may mặc, giày dép và mũ nón tăng 10,83%; dược phẩm và y tế tăng 8,32%; văn hóa, thể thao và giải trí tăng 8,02%; giáo dục tăng 6,12%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,91%. Riêng nhóm phương tiện đi lại và bưu điện giảm 2,8%.

Theo ông Đỗ Thức, để chủ động phòng ngừa tái lạm phát cao trong những tháng cuối năm, đi đôi với việc thực hiện các chính sách, biện pháp tài chính - tiền tệ linh hoạt, cần tăng cường công tác quản lý giá, nhất là các mặt hàng chiến lược, giá cây, con giống, giá thức ăn gia súc để tạo sự ổn định sản xuất kinh doanh cho các cơ sở sản xuất và các hộ nông dân. Tập trung chỉ đạo quyết liệt để các cơ sở sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty lớn và các địa phương thực hiện nghiêm túc các chỉ tiêu kế hoạch năm 2009 đã cam kết.

Phân tích rõ hơn về tình các chỉ số kinh tế -xã hội, sau buổi họp báo, ông Đỗ Thức - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã có trao đổi với báo chí.

PV: Thưa ông, chỉ số tăng CPI cao hơn tốc độ tăng GDP thì có ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế không?

Ông Đỗ Duy Thức: Tôi cho rằng, tốc độ tăng giá và tốc độ tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ với nhau và đều phản ánh sự phát triển của kinh tế. Nếu đặt một bên cao hơn bên kia thì không hoàn toàn logic. Nhưng trong điều kiện hiện nay, CPI cao hơn GDP cũng vẫn là một điều bình thường vì GDP đã loại trừ yếu tố giá. Nhưng một khi nền kinh tế “nóng”, cần phải tăng GDP, chúng ta cần chủ động thực hiện một chính sách tiền tệ nới lỏng có kiểm soát để kích thích tiêu dùng, đầu tư thì kinh tế mới phát triển được. Ở một số nền kinh tế phát triển, tăng 1-2% GDP đã là đáng quý rồi và CPI hầu như không tăng bao nhiêu, thậm chí là giữ nguyên. Nhưng với Việt Nam, chúng ta cần thúc đẩy sản xuất thì cũng phải chủ động để CPI tăng. Tôi cho rằng, đây là điều tốt trong điều kiện của Việt Nam.

PV: Mục tiêu đặt ra là 6 tháng cuối năm kinh tế phải đạt tốc độ tăng trưởng 5,9%. Vậy chúng ta có thuận lợi gì để đạt được mục tiêu này, thưa ông?

Ông Đỗ Duy Thức: Chúng ta có những thuận lợi để khôi phục kinh tế. Trước hết là Chính phủ ý thức được trách nhiệm của mình trước vận mệnh của đất nước và trước tình hình chung. Điều này thể hiện ở sự sốt sắng của Chính phủ. Dân chúng Việt Nam thì hưởng ứng, trong khó khăn luôn biết tìm tòi để khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức và mở rộng sản xuất, kinh doanh. Mặc dù theo điều tra doanh nghiệp mới đây của chúng tôi, có những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, thu hẹp sản xuất, nhưng bên cạnh đó cũng có những doanh nghiệp đang mở rộng sản xuất.

Trong 49 tỉnh, số lao động tại 30 tỉnh giảm nhưng tại các tỉnh còn lại thì số lao động lại tăng lên. Thứ hai là, nếu đánh giá rằng, một số giải pháp, chính sách vừa qua đã đem lại hiệu quả chắc chắn thì còn quá sớm. Nhưng chúng tôi thấy đã có biểu hiện tích cực thông qua con số thống kê trong tháng 4 cao lên, tháng 5 cao hơn tháng 4 và tháng 6 cao hơn nữa. Thứ ba, hiện nay đã có những dấu hiệu cho thấy, một số nền kinh tế lớn có thể phục hồi sớm hơn dự kiến như Mỹ, Nhật. Khi nền kinh tế phục hồi nhanh thì kinh tế Việt Nam còn nhanh hơn./.

Vũ Hạnh

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang